- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa ông H và bà T"
- Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
| D | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BẾN TRE Số: 72/2020/QĐST-HNGĐ | Chợ Lách, ngày 11 tháng 3 năm 2020 |
Q Ế ĐỊ
Ô
Ậ TẬ Ì
Ô
À SỰ OẢ TẬ
ĐƢƠ SỰ
- Căn cứ vào hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số: 29/2020/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2020 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, giữa:
* Nguyên đơn: Ông guyễn hơn H, sinh năm 1984; địa chỉ: ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre.
* Bị đơn: Bà guyễn hị M ng T, sinh năm 1994; địa chỉ: ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Bến Tre.
- Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ vào các Điều 55, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 03 tháng 3 năm 2020.
Việc Tận tình ly hôn và thoả Tận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 03 tháng 3 năm 2020 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả Tận đó.
Q Ế ĐỊ
1. Công nhận sự Tận tình ly hôn giữa: Ông Nguyễn Nhơn H và bà Nguyễn Thị Mộng T.
2. Công nhận sự thoả Tận của các đương sự cụ thể như sau:
* Về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn: Ông Nguyễn Nhơn H và bà Nguyễn Thị Mộng T không yêu cầu Tòa án giải quyết gì về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
* Về con chung và việc cấp dưỡng nuôi con:
- Ông Nguyễn Nhơn H được quyền trực tiếp nuôi người con chung giữa ông với bà Nguyễn Thị Mộng T là Nguyễn Phong Đ, sinh ngày 28/4/2011 (hiện đang sống chung với ông H và có nguyện vọng được sống chung với ông H), ông H không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.
- Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người không trực tiếp nuôi con thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án quyết định hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.
- Vì lợi ích của con chung, các đương sự hoặc các nhân, tổ chức theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình có quyền yêu cầu Tòa án quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con. Khi có lý do chính đáng, các đương sự có quyền thỏa Tận giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con, nếu không thỏa Tận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Về tài sản chung và nợ chung: Ông Nguyễn Nhơn H và bà Nguyễn Thị Mộng T cùng xác định không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
* Về án phí: Ông Nguyễn Nhơn H nhận chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 150.000đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đồng theo biên lai T tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011060 ngày 18 tháng 02 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. Ông H được hoàn trả lại số tiền chênh lệch là 150.000đồng.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. N nh n
M
- Các đương sự;
- VKSND huyện Chợ Lách;
- Chi cục T.H.A dân sự huyện Chợ Lách;
- UBND xã nơi ĐKKH;
- Phòng KTNV-T.H.A TAND tỉnh Bến Tre;
- Lưu: hồ sơ vụ án, Vp, Bp.
h m hị Thu Thanh