vanban.org

Quyết định 72/2018/QĐ-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 24/05/2018 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/05/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Văn Đ và bà Nguyễn Thị L, giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 14/2017/QĐST-DS ngày 13/12/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

Ông Trần Văn Đ và bà Nguyễn Thị L mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm (tổng cộng hai người là 600.000 đồng), được khấu trừ 600.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà Nguyễn Thị L đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2017/0002295 ngày 25/12/2017 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Văn Đ và bà Nguyễn Thị L, giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 14/2017/QĐST-DS ngày 13/12/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
  • Căn cứ chính? Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 72/2018/QĐ-PTĐà Nẵng, ngày 24 tháng 5 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO

ĐỐI VỚI QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Phạm Bá Sơn

Các Thẩm phán:

Ông Lê Tự

Ông Vũ Thanh Liêm

Thư ký phiên họp: Ông Bùi Ngọc Đức – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên họp: Bà Bùi Thị Dung – Kiểm sát viên cao cấp.

NHẬN THẤY:

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 14/2017/QĐST-DS ngày 13 tháng 12 năm 2017.

Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 192; Điều 217, 218, 219 của Bộ luật tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, giữa:

1. Nguyên đơn: Ông Trần Văn Đ, bà Nguyễn Thị L. Địa chỉ: số 130 đường N, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Đ, bà L: Bà Đặng Thanh Q. Địa chỉ: số 18/8 đường N1, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

2. Bị đơn: Ông Trần Văn T. Địa chỉ: số 12 Liên gia 1, tổ dân phố 5, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

3.1. Bà Lê Thị N3. Địa chỉ: số 12 Liên gia 1, tổ dân phố 5, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

3.2. Bà Trần Thị H. Địa chỉ: số 75 đường Y, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

- Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Địa chỉ: số 01 đường L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

Tại đơn kháng cáo ngày 25 tháng 12 năm 2017, nguyên đơn ông Trần Văn Đ và bà Nguyễn Thị L kháng cáo tòa bộ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 14/2017/QĐST-DS ngày 13 tháng 12 năm 2017 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

XÉT THẤY:

Nguyên đơn ông Trần Văn Đ và bà Nguyễn Thị L khởi kiện ông Trần Văn T đòi lại thửa đất số 11 (nay là thửa 13), tờ bản đồ Độc lập (tờ bản đồ mới 42), diện tích 550m2 tại khối 5, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Thửa đất này đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X 933741 ngày 29/12/2003 cho hộ ông Trần Văn T. Tại Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 29/2017/HNGĐ-ST ngày 22/3/2017 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đắk Lắk đã xác định đây là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của ông Trần Văn T và bà Trần Thị H. Bản án đã chia tài sản chung như sau:

“- Giao cho ông Trần Văn T được quyền sở hữu, sử dụng 01 căn nhà xây cấp bốn diện tích xây dựng 100m2, diện tích sử dụng 100m2… trên tổng diện tích đất 550m2, trong đó có 200m2 đất ở, 350m2 đất trồng cây hàng năm được Ủy ban nhân dân Tp. B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X933741 ngày 29/12/2003, thửa đất số 11, tờ bản đồ Độc lập, tọa lạc tại khối 5 phường T, Tp. B, tỉnh Đắk Lắk, đứng tên hộ ông Trần Văn T. Trị giá nhà và đất là 1.041.600.000 đồng.

- Ông Trần Văn T có trách nhiệm thanh toán 1/2 giá trị tài sản chênh lệch cho bà Trần Thị H số tiền là 520.800.000 đồng.”

Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 29/2017/HNGĐ-ST ngày 22/3/2017 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đắk Lắk đang có hiệu lực pháp luật. Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk căn cứ điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự với lý do: Sự việc đã được giải quyết bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án là đúng quy định của pháp luật.

Do vậy, Hội đồng phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Văn Đ và bà Nguyễn Thị L, giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 14/2017/QĐST-DS ngày 13/12/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 314 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Văn Đ và bà Nguyễn Thị L, giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 14/2017/QĐST-DS ngày 13/12/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

2. Ông Trần Văn Đ và bà Nguyễn Thị L mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm (tổng cộng hai người là 600.000 đồng), được khấu trừ 600.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà Nguyễn Thị L đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2017/0002295 ngày 25/12/2017 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ