- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "tuyên bố chết"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 71/2022/QĐST-VDS | T, ngày 28 tháng 7 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Văn Thắng
Thư ký phiên họp: Bà Đặng Mai Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên họp: Bà Chu Thị Hồng Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 15/2022/TLST-VDS ngày 11 tháng 3 năm 2022 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 15/2022/QĐST-VDS ngày 22 tháng 7 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1969 (có mặt)
Trú tại: Đội 10, xã Đ, huyện T, Hà Nội
Người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan:
1. Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1943 (xin vắng mặt)
Trú tại: Đội 10, xã Đ, huyện T, Hà Nội
2. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1971 (xin vắng mặt)
Trú tại: Cụm 12, xã V, huyện T, Hà Nội
3. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1974 (xin vắng mặt)
Trú tại: Đội 11, xã Đ, huyện T, Hà Nội
4. Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1979 (xin vắng mặt)
Trú tại: Đội 10, xã Đ, huyện T, Hà Nội
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu, trong quá trình tố tụng và tại phiên họp, người yêu cầu là ông Nguyễn Văn Q trình bày:
Bố ông là ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1941, cư trú tại: Đội 10, xã Đ, huyện T, Hà Nội. Ông L có vợ là bà Nguyễn Thị D. Ông L, bà D có 04 người con, lần lượt là: ông Nguyễn Văn Q, bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị T2. Ngoài ra, ông L, bà D không còn người con chung, con riêng nào khác. Năm 1986, ông L đã bỏ nhà đi biệt tích. Gia đình đã tìm kiếm nhiều nơi và đăng tin trên báo Hà Nội Mới, nhưng đến nay vẫn không có tin tức gì xác thực ông L còn sống hay đã chết. Ông L cũng không có lần nào trở về địa phương.
Nay, ông Q yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Văn L đã chết. Ngoài ra, ông không còn yêu cầu nào khác.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ L quan là bà Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Tnh bày:
Các bà xác nhận lời khai của ông Q là đúng, hoàn toàn nhất trí với yêu cầu của ông Q và đề nghị Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Văn L đã chết.
Tại phiên họp:
- Ông Nguyễn Văn Q vẫn giữ nguyên lời khai và quan điểm yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Văn L đã chết;
- Bà Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị T2 xin vắng mặt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T phát biểu:
+ Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về quan điểm giải quyết việc dân sự: yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Nguyễn Văn Q là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật nên đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông Q, tuyên bố ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1941; nơi cư trú cuối cùng: Thôn Đ, xã Đ, huyện T, Hà Nội đã chết. Ngày chết là ngày 02/01/1992. Ông Nguyễn Văn Q phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện T nhận định:
[1] Về tố tụng: Ông Nguyễn Văn L có nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích tại thôn Đ, xã Đ, huyện T, Hà Nội nên đơn yêu cầu của ông Nguyễn Văn Q thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T theo quy định tại khoản 4 Điều 27, khoản 2 Điều 35 và khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Căn cứ các tài liệu trong hồ sơ và xác minh của Ủy ban nhân dân xã Đ, Công an xã Đ: ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1941, trước khi biệt tích, ông L cư trú tại: Đội 10, xã Đ, huyện T, Hà Nội. Khoảng năm 1965-1966, ông L kết hôn với bà Nguyễn Thị D. Ông L, bà D có 04 người con, lần lượt là: ông Nguyễn Văn Q, bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị T2. Ngoài ra, ông L, bà D không còn người con chung, con riêng nào khác. Năm 1986, ông L đã bỏ nhà đi biệt tích, đến nay đã hơn 35 năm, không có tin tức gì xác thực ông L còn sống. Chính quyền địa phương không nhận được bất kỳ thông tin gì về ông L. Theo thông tin cư trú, ông L không còn hộ khẩu thường trú tại địa phương do ông L bỏ nhà đi đã lâu nên gia đình ông không khai báo thường trú.
Tòa án nhân dân huyện T đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết đối với ông Nguyễn Văn L. Thông báo tìm kiếm đã được đăng trên Báo Nhân dân 03 số L tiếp vào các ngày 19, 20, 21/3/2022; đăng trên Đài Tiếng nói Việt Nam vào các ngày 25, 26, 27/3/2022; đăng trên Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội ngày 14/3/2022. Đến nay đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên theo quy định tại khoản 2 Điều 392 Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng vẫn không có tin tức xác thực ông Nguyễn Văn L còn sống. Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự, chấp nhận yêu cầu của ông Q về việc yêu cầu tuyên bố ông Nguyễn Văn L là đã chết.
Ông Nguyễn Văn L bỏ nhà đi từ năm 1986, không rõ ngày, tháng cụ thể. Căn cứ khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự, thời hạn biệt tích 05 năm liền được tính từ ngày 01/01/1987. Do đó, xác định ngày chết của ông Nguyễn Văn L là ngày 02/01/1992 theo quy định tại điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 71 Bộ luật Dân sự.
[3] Về lệ phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: ông Q phải nộp 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo Quyết định theo quy định tại Điều 371, 372 Bộ luật tố tụng Dân sự.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 4 Điều 27, Điểm a khoản 2 Điều 35, khoản 2 điều 39, Điều 149, Điều 371, Điều 372, Điều 391, Điều 393 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 71, 72 của Bộ luật Dân sự;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn Q.
Tuyên bố: Nguyễn Văn L, sinh năm 1941, nơi cư trú cuối cùng: Đội 10, xã Đ, huyện T, Hà Nội là đã chết.
Ngày chết của ông Nguyễn Văn L là ngày 02/01/1992.
Kể từ ngày Quyết định có hiệu lực pháp luật thì các quan hệ về hôn nhân và gia đình, quan hệ về nhân thân khác và quan hệ tài sản của ông Nguyễn Văn L được giải quyết như đối với người đã chết.
2. Lệ phí: Ông Nguyễn Văn Q phải nộp 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng lệ phí đã nộp theo Biên lai số 0062372 ngày 10/3/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T. Ông Q đã nộp đủ lệ phí sơ thẩm.
3. Ông Q có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân huyện T có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra Quyết định. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày từ ngày nhận được quyết định hoặc từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện T; - Lưu Hồ sơ việc dân sự. | Nguyễn Văn Thắng |