vanban.org

Quyết định 71/2019/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Mạnh T và chị Nguyễn Thị Th tình ly hôn. Về con chung: Anh Phạm Mạnh T và chị Nguyễn Thị Th có 04 người con chung: Cháu Phạm Thị Diệu Châu, sinh ngày 27/9/2009; cháu Phạm Minh Ngọc, sinh ngày 03/12/2012; cháu Phạm Kim Ngân, sinh ngày 03/12/2012; cháu Phạm Phúc Phát, sin… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "QĐCNSTT Th-T"
  • Tòa quyết gì? Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 116 Luật Hôn nhân và Gia đình VN
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Số: 71/2019/QĐST-HNGĐ
Điện Biên Phủ, ngày 30 tháng 9 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

Căn cứ vào Điều 212, Điều 213, Điều 361 và khoản 4 Điều 397 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 55, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, 116, 117 Luật Hôn nhân và Gia đình VN;

Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc dân sự thụ lý số: 89/2019/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 9 năm 2019. về việc "Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận về nuôi con và chia tài sản chung khi ly hôn", gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

- Anh Phạm Mạnh T, sinh năm 1980; địa chỉ: SN 95, tổ dân phố 04, phường Thanh Trường, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.

- Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1980; địa chỉ: SN 95, tổ dân phố 04, phường Thanh Trường, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trong đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận về nuôi con và chia tài sản chung khi ly hôn đề ngày 10/9/2019, anh Phạm Mạnh T và chị Nguyễn Thị Th trình bày:

- Về hôn nhân: Anh Phạm Mạnh T và chị Nguyễn Thị Th tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 28/11/2008 tại trụ sở UBND phường Mường Thanh, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên, kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện không bị ép buộc. Trong thời gian chung sống do tính tình vợ chồng không hợp, quan điểm sống khác biệt nhau nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy anh T và chị Th cùng làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên công nhận thuận tình ly hôn cho anh chị.

- Về con chung: Anh Phạm Mạnh T và chị Nguyễn Thị Th có 04 người con chung: Cháu Phạm Thị Diệu Châu, sinh ngày 27/9/2009; cháu Phạm Minh Ngọc, sinh ngày 03/12/2012; cháu Phạm Kim Ngân, sinh ngày 03/12/2012; cháu Phạm Phúc Phát, sinh ngày 13/6/2017.

Anh T và chị Th thống nhất thỏa thuận:

Anh Phạm Mạnh T là người trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng giáo dục con chung là cháu Phạm Kim Ngân và cháu Phạm Phúc Phát; chị Nguyễn Thị Th là người trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng giáo dục con chung là cháu Phạm Thị Diệu Châu và cháu Phạm Minh Ngọc. Việc cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Anh Phạm Mạnh T và chị Nguyễn Thị Th thông nhất có khối tài sản chung sau:

01 Nhà nhà xây cấp 4 lợp tôn ở có diện tích 40m2 trên diện tích đất 96 m2tại địa chỉ: tổ dân phố 4, phường Thanh Trường, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất BC 586376 số vào sổ cấp GCN: CH18303 do UBND thành phố Điện Biên Phủ cấp ngày 03/10/2011mang tên người sử dụng: ông Phạm Mạnh T và bà Nguyễn Thị Th.

01 Bể bơi và 01 nhà tạm lợp tôn có diện tích là 30m2 trên diện tích đất 84,6 m2 tại địa chỉ: tổ dân phố 4, phường Thanh Trường, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất BG 016268 số vào sổ cấp GCN: CH 25458 do UBND thành phố Điện Biên Phủ cấp ngày 25/6/2014 mang tên người sử dụng: anh Phạm Mạnh T và chị Nguyễn Thị Th.

Anh T và chị Th tự thỏa thuận và yêu cầu Tòa án công nhận sự thỏa thuận phân chia tài sản như sau:

Chị Nguyễn Thị Th được quyền sở hữu 01 Nhà nhà xây cấp 4 lợp tôn ở có diện tích 40m2 trên diện tích đất 96m2 tại địa chỉ: tổ dân phố 4, phường Thanh Trường, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất BC 586376 số vào sổ cấp GCN: CH18303 do UBND thành phố Điện Biên Phủ cấp ngày 03/10/2011 mang tên người sử dụng: anh Phạm Mạnh T và chị Nguyễn Thị Th.

Anh Phạm Mạnh T được quyền sở hữu 01 Bể bơi và 01 nhà tạm lợp tôn có diện tích là 30m2 trên diện tích đất 84,6 m2 tại địa chỉ: tổ dân phố 4, phường Thanh Trường, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất BG 016268 số vào sổ cấp GCN: CH 25458 do UBND thành phố Điện Biên Phủ cấp ngày 25/6/2014 mang tên người sử dụng: anh Phạm Mạnh T và chị Nguyễn Thị Th.

Không bên nào phải trả tiền chênh lệch về tài sản cho bên nào.

- Về nợ chung: Không có.

Ngày 20/9/2019, Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên đã tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ. Tuy nhiên, cả anh T và chị Th đều không nhất trí quay về đoàn tụ. Căn cứ vào biên bản hòa giải đoàn tụ không thành, các đương sự đã thỏa thuận được những nội dung sau:

. Về hôn nhân: Anh Phạm Mạnh T và chị Nguyễn Thị Th vẫn giữ yêu cầu Tòa án công nhận việc anh chị thuận tình ly hôn.

. Về con chung: Anh Phạm Mạnh T là người trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng giáo dục con chung là cháu Phạm Kim Ngân và cháu Phạm Phúc Phát; chị Nguyễn Thị Th là người trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng giáo dục con chung là cháu Phạm Thị Diệu Châu và cháu Phạm Minh Ngọc. Việc cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết.

. Về tài sản chung: Yêu cầu Tòa án ghi nhận sự tự thỏa thuận của các đương sự, cụ thể:

Chị Nguyễn Thị Th được quyền sở hữu 01 Nhà nhà xây cấp 4 lợp tôn ở có diện tích 40m2 trên diện tích đất 96m2 tại địa chỉ: tổ dân phố 4, phường Thanh Trường, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất BC 586376 số vào sổ cấp GCN: CH18303 do UBND thành phố Điện Biên Phủ cấp ngày 03/10/2011 mang tên người sử dụng: anh Phạm Mạnh T và chị Nguyễn Thị Th.

Anh Phạm Mạnh T được quyền sở hữu 01 Bể bơi và 01 nhà tạm lợp tôn có diện tích là 30m2 trên diện tích đất 84,6 m2 tại địa chỉ: tổ dân phố 4, phường Thanh Trường, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất BG 016268 số vào sổ cấp GCN: CH 25458 do UBND thành phố Điện Biên Phủ cấp ngày 25/6/2014 mang tên người sử dụng: anh Phạm Mạnh T và chị Nguyễn Thị Th.

Không bên nào phải trả tiền chênh lệch về tài sản cho bên nào.

. Về nợ chung: Không có.

. Về lệ phí giải quyết vụ việc: Anh Phạm Mạnh T tự nguyện chịu toàn bộ lệ phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự ngày 20 tháng 9 năm 2019 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập Biên bản hòa giải đoàn tụ không thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Mạnh T và chị Nguyễn Thị Th tình ly hôn.

- Về con chung: Anh Phạm Mạnh T và chị Nguyễn Thị Th có 04 người con chung: Cháu Phạm Thị Diệu Châu, sinh ngày 27/9/2009; cháu Phạm Minh Ngọc, sinh ngày 03/12/2012; cháu Phạm Kim Ngân, sinh ngày 03/12/2012; cháu Phạm Phúc Phát, sinh ngày 13/6/2017.

Anh T được quyền người trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng giáo dục con chung là cháu Phạm Kim Ngân và cháu Phạm Phúc Phát; chị Th được quyền trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng giáo dục con chung là cháu Phạm Thị Diệu Châu và cháu Phạm Minh Ngọc. Việc cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở và có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

Vì lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại Luật hôn nhân và gia đình VN, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung:

Chị Nguyễn Thị Th được quyền sở hữu 01 Nhà nhà xây cấp 4 lợp tôn ở có diện tích 40m2 trên diện tích đất 96m2 tại địa chỉ: tổ dân phố 4, phường Thanh Trường, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất BC 586376 số vào sổ cấp GCN: CH18303 do UBND thành phố Điện Biên Phủ cấp ngày 03/10/2011 mang tên người sử dụng: anh Phạm Mạnh T và chị Nguyễn Thị Th.

Anh Phạm Mạnh T được quyền sở hữu 01 Bể bơi và 01 nhà tạm lợp tôn có diện tích là 30m2 trên diện tích đất 84,6 m2 tại địa chỉ: tổ dân phố 4, phường Thanh Trường, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất BG 016268 số vào sổ cấp GCN: CH 25458 do UBND thành phố Điện Biên Phủ cấp ngày 25/6/2014 mang tên người sử dụng: anh Phạm Mạnh T và chị Nguyễn Thị Th.

Không bên nào phải trả tiền chênh lệch về tài sản cho bên nào.

- Về nợ chung: Không có.

2. Về lệ phí Tòa án: Anh Phạm Mạnh T tự nguyện chịu toàn bộ lệ phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số AA/2016/09350 ngày 10/9/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên; anh T đã nộp đủ tiền lệ phí.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ