vanban.org

Quyết định 71/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

ChÊp nhËn yªu cÇu khëi kiÖn cña nguyªn ®¬n chị Đinh Thị Thúy H.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Thúy H được ly hôn với anh Trần Xuân T Về quan hệ con chung: Tiếp tục giao cháu Trần Thị Tuyết A, sinh ngày 02 tháng 01 năm 2002 và Trần Thị Quỳnh N, sinh ngày 25/08/2005 cho chị Đinh Thị Thúy H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? ChÊp nhËn yªu cÇu khëi kiÖn cña nguyªn ®¬n chị Đinh Thị Thúy H.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN HIỆP
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 17-10-2019
V/v “Tranh chấp Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HIỆP, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Danh Vũ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Văn Thành Nhiều

2. Bà Phan Thi Trúc Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Cẩm Ni, thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang: Không tham gia phiên toà:

Trong ngày 17 tháng 10 năm2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp,tỉnh Kiên Giang. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 199/2019/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2019 về việc “ Tranh chấp ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2019/QĐXX-HNGĐ ngày 25 tháng 9 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 42/2019 ngày 09 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyªn ®¬n: Chị Đinh Thị Thúy H, sinh năm: 1980 (Có mặt)

Địa chỉ: Số nhà 5, tổ 6, ấp Kinh A, xã Tân A, huyện Tân H, tỉnh Kiên Giang.

BÞ ®¬n : Anh Trần Xuân T, sinh năm: 1980 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số nhà 5, tổ 6, ấp Kinh A, xã Tân A, huyện Tân H, tỉnh Kiên Giang.

Tạm trú: Số 4, ấp 3, xã Tân H, huyện Tân H, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 08/7/2019 và tại phiên tòa nguyên đơn chị Đinh Thị Thúy H trình bày:

Chị Hvà anh Trần Xuân T chung sống với nhau vào năm 2000, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn trễ hạn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện Tân H, tỉnh Kiên Giang vào ngày 12 tháng 7 năm 2001, số 63/2001, quyển số: 01/2001. Trước khi chung sống vợ chồng có tìm hiểu nhau trước khoảng 10 tháng, mới tiến tới hôn nhân, hôn nhân tự nguyện, không bị cưỡng ép. Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh T có người phụ nữ khác không quan tâm đến cuộc sống vợ chồng, anh T thường xuyên đi uống rượu khi về đến nhà anh T dùng những lời lẽ thô tục chửi chị, từ đó vợ chồng bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống không thể hòa giải. Chị H xét thấy tình cảm vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Chị H và anh T ly thân từ tháng 6 năm 2017 cho đến nay.

Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Thị Tuyết A, sinh ngày 02 tháng 01 năm 2002 và Trần Thị Quỳnh N, sinh ngày 25/08/2005, hiện nay cháu A và cháu Quỳnh N đang ở với chị H. Chị H yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa chị H yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về quan hệ hôn nhân: Chị H yêu cầu ly hôn với anh Trần Xuân T.

Về con chung: Chị H yêu cầu được nuôi con tên Trần Thị Tuyết A, sinh ngày 02 tháng 01 năm 2002 và Trần Thị Quỳnh N, sinh ngày 25/08/2005, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo biên bản ghi nguyện vọng của cháu Trần Thị Quỳnh N và cháu Trần Thị Tuyết A ngày 09 tháng 9 năm 2019 thì cháu N và cháu A có nguyện vọng được ở với chị Đinh Thị Thúy H.

Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ giấy triệu tập cho anh Trần Xuân T tham gia phiên họp kiểm tra việc, giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và triệu tập tham gia phiên tòa, nhưng anh T đều không có mặt và không có lời trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là tranh chấp ly hôn, bị đơn anh Trần Xuân T đang cư trú số 4, ấp 3, xã Tân H, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự .

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay anh Trần Xuân T mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Trần Xuân T.

Về quan hệ hôn nhân: Xét mối quan hệ hôn nhân giữa chị Đinh Thị Thúy H và anh Trần Xuân T được xác lập trên cơ sở tự nguyên, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện Tân H, tỉnh Kiên Giang vào ngày 12 tháng 07 năm 2001, số 63/2001, quyển số: 01/2001 là phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu xin được ly hôn của chị H thấy rằng sau khi kết hôn, chị H và anh T chung sống hạnh phúc, đến tháng 6 năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh T có người phụ nữ khác không còn quan tâm đến cuộc sống vợ chồng, anh T thường đi uống rượu về dùng những lời lẽ thô tục chửi chị H dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm có lối sống không phù hợp. Chị H và anh T đã ly thân từ tháng 6 năm 2017 cho đến nay. Trong thời gian ly thân không ai quan tâm đến ai, không chăm sóc, giúp đỡ nhau, điều này chứng tỏa tình trạng hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể hiện được tình nghĩa vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân gia đình “ Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau;…. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau,….”.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành tống đạt họp lệ cho anh T tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh T điều vắng mặt không có lý do. Điều này chứng tỏa tình trạng hôn nhân của chị H và anh T lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình 2014 quy đinh “ Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn….”.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hằng.

Về con chung: Chị H và anh T có 02 con chung tên Trần Thị Tuyết A, sinh ngày 02 tháng 01 năm 2002 và Trần Thị Quỳnh N, sinh ngày 25/08/2005 hiện nay cháu Tuyết A và cháu Quỳnh N đang ở với chị H chị H yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Theo nguyện vọng cháu A và cháu N hai cháu có nguyện vọng ở với chị H . Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của xin được nuôi con của chị H tiếp tục giao cháu Trần Thị Tuyết A, sinh ngày 02 tháng 01 năm 2002 và Trần Thị Quỳnh N, sinh ngày 25/08/2005 cho chị Đinh Thị Thúy H tiếp tục, trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu A và cháu N đủ 18 tuổi, anh Trần Xuân T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, anh Trần Xuân T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, đồng thời anh T không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Các đương sự có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đinh Thị Thúy H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản ántheo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 khoản 4 Điều 147 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 56,81,82,83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1.ChÊp nhËn yªu cÇu khëi kiÖn cña nguyªn ®¬n chị Đinh Thị Thúy H.

2.Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Thúy H được ly hôn với anh Trần Xuân T

3. Về quan hệ con chung: Tiếp tục giao cháu Trần Thị Tuyết A, sinh ngày 02 tháng 01 năm 2002 và Trần Thị Quỳnh N, sinh ngày 25/08/2005 cho chị Đinh Thị Thúy H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng.

Sau khi ly hôn anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, đồng thời anh T không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Các đương sự có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật

Về cấp dưỡng nuôi con chị H không yêu cầu Hội đồng xét xử không xem xét.

4.Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5.Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đinh Thị Thúy H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số:0003493 ngày 01/8/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang. Chị H đã nộp đủ.

6. Quyền kháng cáo: Chị Đinh Thị Thúy H, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Trần Xuân T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Tòa án ND tỉnh Kiên Giang;

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện Tân Hiệp; -THA dân sự huyện Tân H;

- UBND xãA;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ.

Danh Vũ

Cỡ chữ