vanban.org

Quyết định 70/2023/QĐ-PT

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 04/07/2023 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 04/07/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bác kháng cáo của ông Phạm Văn Kh; giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 03/2023/QĐST-HC ngày 10 tháng 01 năm 2013 của Tòa án nhân dân tỉnh QN.

Án phí hành chính phúc thẩm: Ông Phạm Văn Kh phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng; được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí phúc thẩm do ông Lê Văn Bắc đã nộp thay ông Kh tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh QN theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0016138 ngày 13 th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai"
  • Tòa quyết gì? Bác kháng cáo của ông Phạm Văn Kh; giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 03/2023/QĐST-HC ngày 10 tháng 01 năm 2013 của Tòa án nhân dân tỉnh QN.
  • Căn cứ chính? Điều 143 Luật tố tụng hành chính; Điều 144 Luật tố tụng hành chính; Điều 165 Luật tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 70/2023/QĐ-PTHà Nội, ngày 04 tháng 7 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Xuân Điền

Các Thẩm phán:

Ông Vũ Minh Tuấn

Ông Đặng Văn Hưng

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên họp: Bà Vũ Thị Thúy, Kiểm sát viên cao cấp.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 03/2023/QĐST-HC ngày 10 tháng 01 năm 2013, Tòa án nhân dân tỉnh QN đã căn cứ vào Điều 143, Điều 144 và Điều 165 của Luật tố tụng hành chính, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính” giữa:

- Người khởi kiện: Ông Phạm Văn Kh; nơi ĐKHKTT: Khu x, phường HY, thành phố MC, tỉnh QN; nơi ở hiện nay: thôn C, xã T, thành phố HD, tỉnh HD.

- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thành phố MC, tỉnh QN.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố MC, tỉnh QN;

2. Ủy ban nhân dân phường HY, thành phố MC, tỉnh QN;

3. Bà Đinh Thị H; địa chỉ: thôn C, xã T, thành phố HD, tỉnh HD.

Tại Đơn kháng cáo đề ngày 17 tháng 01 năm 2023 (Tòa án nhân dân tỉnh QN nhận ngày 30/01/2023), người khởi kiện là ông Phạm Văn Kh kháng cáo đối với toàn bộ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 03/2023/QĐST-HC ngày 10 tháng 01 năm 2013 của Tòa án nhân dân tỉnh QN với lý do: “Ngày 10/01/2023, tại phiên toà xét xử vụ án hành chính thụ lý số 62/2018/TLSTHC ngày 14/6/2018, tôi được Hội đồng xét xử công bố tài liệu do UBND thành phố MC cung cấp vào ngày 10/01/2023 là Quyết định số 1872/QĐ-UBND ngày 04/6/2021 về việc giải quyết khiếu nại của ông Phạm Văn Kh, trú tại Khu x, phường HY, thành phố MC (Lần 2) và nghe giải thích tại phiên toà là cùng với việc khởi kiện và có đơn khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại mà Toà án vẫn thụ lý giải quyết vụ án là vi phạm thủ tục tố tụng. Do vậy, tôi đã rút yêu cầu khởi kiện tại phiên toà.

Sau khi nhận quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, tôi thấy rằng tài liệu Hội đồng xét xử công bố do UBND thành phố MC cung cấp vào ngày 10/01/2023 là Quyết định số 1872/QĐ-UBND ngày 04/6/2021, không phải là Quyết định giải quyết lần 2 của dự án mở rộng Km3 + Km4 Sông Ka Long, phường HY, thành phố MC…”.

XÉT THẤY:

Ngày 10 tháng 01 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh QN đã mở phiên tòa xét xử theo thủ tục sơ thẩm vụ án.

Theo nội dung Biên bản phiên tòa thì tại phiên tòa này, người khởi kiện là ông Phạm Văn Kh và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện là Luật sư Chu Văn T1 có mặt. Sau khi thực hiện thủ tục bắt đầu phiên tòa, Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa đã công bố công khai sự việc ngày 09/01/2023 Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố MC đã cung cấp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ: Quyết định giải quyết khiếu nại số 2610/QĐ-UBND ngày 13/6/2018 của UBND thành phố MC và Quyết định giải quyết khiếu nại số 1872/QĐ-UBND ngày 14/6/2021 của Chủ tịch UBND tỉnh QN đối với hộ ông Phạm Văn Kh. Đồng thời, Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa đã cho tạm dừng phiên tòa để người khởi kiện là ông Phạm Văn Kh và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện được tiếp cận tài liệu, chứng cứ mới.

Sau khi được tiếp cận tài liệu, chứng cứ mới, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện là Luật sư Chu Văn T1 đề nghị được rút yêu cầu khởi kiện; người khởi kiện là ông Phạm Văn Kh đồng ý rút đơn khởi kiện và làm Đơn rút yêu cầu khởi kiện với nội dung: “Tại phiên tòa xét xử vụ án ngày 10/01/2023, tôi được HĐXX công bố tài liệu, chứng cứ mới do UBND thành phố MC cung cấp là Quyết định số: 1872/QĐ-UBND ngày 14/6/2021 về việc giải quyết khiếu nại lần 2. Do vậy, tôi làm đơn này xin rút lại yêu cầu khởi kiện để thực hiện quyền của người khiếu nại theo quy định của pháp luật...”.

Như vậy, tại phiên tòa ngày 10/01/2023, sau khi Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa cho tạm dừng phiên tòa để người khởi kiện là ông Phạm Văn Kh và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện tiếp cận tài liệu, chứng cứ mới thì người khởi kiện đã tự nguyện xin rút đơn khởi kiện (có Đơn rút yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn Kh giao nộp tại phiên tòa). Sau khi nghe Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh QN phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử đã vào phòng nghị án để thảo luận và đã ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính thụ lý số 62/2018/TLST-HC ngày 14/6/2018 về khiếu kiện “Quyết định hành chính” là đúng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 143 của Luật Tố tụng hành chính.

Đối với lý do ông Kh nêu tại Đơn kháng cáo cho rằng sau khi nhận quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, ông mới biết Quyết định số 1872/QĐ-UBND nêu trên không phải là quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 của dự án mở rộng Km3 + Km4 sông Ka Long, phường HY, thành phố MC là không có cơ sở, bởi vì: tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã cho tạm dừng phiên tòa để ông Kh và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ông Kh được tiếp cận Quyết định này; Biên bản phiên tòa và Đơn xin rút yêu cầu khởi kiện do ông Kh viết, giao nộp tại phiên tòa không có nội dung Hội đồng xét xử sơ thẩm giải thích tại phiên toà là “cùng với việc khởi kiện và có đơn khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại mà Toà án vẫn thụ lý giải quyết vụ án là vi phạm thủ tục tố tụng” như ông Kh trình bày tại Đơn kháng cáo; ngoài ra, ông Kh không còn lý do nào khác. Do đó, kháng cáo của ông Phạm Văn Kh yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính là không có căn cứ nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí hành chính phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 1 Điều 349 của Luật Tố tụng hành chính; khoản 1 Điều 34 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, ông Phạm Văn Kh có kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 243 của Luật Tố tụng hành chính và Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

1. Bác kháng cáo của ông Phạm Văn Kh; giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 03/2023/QĐST-HC ngày 10 tháng 01 năm 2013 của Tòa án nhân dân tỉnh QN.

2. Án phí hành chính phúc thẩm: Ông Phạm Văn Kh phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng; được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí phúc thẩm do ông Lê Văn Bắc đã nộp thay ông Kh tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh QN theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0016138 ngày 13 tháng 02 năm 2023.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ