vanban.org

Quyết định 70/2022/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND Quận 11, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 13/05/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Phan Thị Anh Đ.

Tuyên bố: Ông Phan Văn Tr, ông Phan Trọng Nh, ông Phan Trọng T, bà Phan Thị Thanh Tr1; cùng nơi cư trú cuối cùng tại: Số đường Bình Thới, Phường MB, Quận XI, Thành phố H là đã chết. Ngày chết được xác định là ngày 02 tháng 12 năm 1986. Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật thì các quan hệ về h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Phan Thị Anh Đ.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 70/2022/QĐST-DSQuận 11, ngày 13 tháng 5 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Ngọc Hoài

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thùy Dương – Thư ký Tòa án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 tham gia phiên họp: Bà Lê Thị Mỹ Vân – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11 mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 118/2021/TLST-DS ngày 03 tháng 12 năm 2021 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 09/2022/QĐST-DS ngày 26 tháng 4 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Phan Thị Anh Đ, sinh năm: 1965; địa chỉ: Số đường Bình Thới, Phường MB, Quận XI, Thành phố H; (Có đơn xin vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Phan Trọng N1, sinh năm 1973; địa chỉ: đường Bình Thới, Phường MB, Quận XI, Thành phố H; (Có đơn xin vắng mặt)

Ông Phan Trọng L, sinh năm 1975; địa chỉ: đường Bình Thới, Phường MB, Quận XI, Thành phố H; (Có đơn xin vắng mặt)

Ông Phan Trọng Tr2, sinh năm 1978; địa chỉ: đường Bình Thới, Phường MB, Quận XI, Thành phố H; (Có đơn xin vắng mặt)

Bà Phan Thị Minh N2, sinh năm 1980; địa chỉ: Ấp Bình Quới Thương, xã Bình Minh, huyện CG, tỉnh TG; (Có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, bản tự khai, người yêu cầu giải quyết việc dân sự trình bày:

Nguyên cha mẹ bà Phan Thị Anh Đ là ông Phan Văn Tr và bà Nguyễn Thị Lan (chết năm 2021, có giấy chứng tử) chung sống có 8 người con là: Phan Thị Anh Đ, Phan Trọng Nh, Phan Trọng T, Phan Thị Thanh Tr1, Phan Trọng N1, Phan Trọng L, Phan Trọng Tr2, Phan Thị Minh N2.

Tháng 11 năm 1981, ông Tr dẫn các con là Phan Trọng Nh, Phan Trọng T và Phan Thị Thanh Tr1 bỏ nhà đi đâu không rõ tung tích. Gia đình đã nhiều lần tìm kiếm nhưng không có tin tức. Đã mấy chục năm kể từ ngày ông Tr, ông N, ông T, bà Tr1 biệt tích đến nay cũng không có bất kỳ tin tức nào xác thực còn sống hay đã chết nên bà Phan Thị Anh Đ yêu cầu tuyên bố ông Phan Văn Tr cùng các ông, bà Phan Trọng Nh, Phan Trọng T, Phan Thị Thanh Tr1 đã chết theo quy định của pháp luật.

Theo dòng họ nói rằng cha mẹ ông Tr là ông Phan Văn Lương (sinh năm 1915, chết năm 1974) và bà Phan Thị Anh (sinh năm 1912, chết năm 1973), do chiến tranh loạn lạc nên không làm giấy chứng tử. Trước khi đi, ông N, ông T, bà Tr2 chưa lập gia đình.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan các ông, bà Phan Trọng Tr2, Phan Trọng L, Phan Thị Minh N2, Phan Trọng N1: Thống nhất với lời trình bày của bà Phan Thị Anh Đ và không có ý kiến gì đối với yêu cầu của bà Đ về việc tuyên bố các ông bà Phan Văn Trọng, Phan Trọng Nh, Phan Trọng T, Phan Thị Thanh Tr1 là đã chết.

Tại phiên họp, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 11 phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự như sau:

Về thủ tục tố tụng: Mẫu quyết định phân công thẩm phán giải quyết việc dân sự không đúng biểu mẫu quy định. Thẩm phán chưa đảm bảo thời hạn tống đạt Thông báo thụ lý cho đương sự (trễ hạn).

Về yêu cầu của bà Phan Thị Anh Đ là có cơ sở pháp lý và phù hợp với quy định của pháp luật, đề nghị Tòa án chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân Quận 11 nhận định:

Về thẩm quyền:

Ông Phan Văn Tr, ông Phan Trọng Nh, ông Phan Trọng T, bà Phan Thị Thanh Tr1 là người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết, có nơi cư trú cuối cùng tại Quận 11. Căn cứ khoản 4 Điều 27, khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, yêu cầu dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Quận 11.

Về thủ tục tố tụng: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng mặt tại phiên họp nên Tòa án vẫn tiến hành mở phiên họp theo quy định Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu của đương sự:

Căn cứ xác minh của Công an Phường 14, Quận 11: “Đương sự ông Phan Văn Tr, sinh năm 1936, con Phan Trọng Nh, sinh năm 1967, con Phan Trọng T, sinh năm 1969, con Phan Thị Thanh Tr1, sinh năm 1971. Trước 11/1981 có đăng ký hộ khẩu tại Bình Thới, Phường MB, Quận XI. Sau 11/1981 bị xóa hộ khẩu, lý do: Vắng mặt đi không lý do”. Tại Điều 71 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống”. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Quận 11 đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết số 03/2021/QĐ-TA ngày 09/12/2021. Hết thời hạn 4 tháng kể từ ngày đăng phát thông báo đầu tiên nhưng vẫn không có tin tức xác định là ông Phan Văn Tr, ông Phan Trọng Nh, ông Phan Trọng T, bà Phan Thị Thanh Tr1 còn sống hay đã chết. Do đó, yêu cầu của bà Phan Thị Anh Đ về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Phan Văn Tr, ông Phan Trọng Nh, ông Phan Trọng T, bà Phan Thị Thanh Tr1 là đã chết là có căn cứ, phù hợp với quy định.

Về xác định ngày chết của ông Phan Văn Tr, ông Phan Trọng Nh, ông Phan Trọng T, bà Phan Thị Thanh Tr1: Theo xác nhận của Công an Phường 14, Quận 11 thì “Sau 11/1981 bị xóa hộ khẩu, lý do: Vắng mặt đi không lý do”. Theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự thì Tòa án xác định ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết là ngày kế tiếp của ngày sau 05 năm kể từ ngày người đó biệt tích; thời hạn 05 năm được tính từ ngày biết tin tức cuối cùng về người đó, do vậy, ngày chết của ông Phan Văn Tr, ông Phan Trọng Nh, ông Phan Trọng T, bà Phan Thị Thanh Tr1 được xác định là ngày 02 tháng 12 năm 1986.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Phan Thị Anh Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 4 Điều 27, khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 367, Điều 371, Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 71 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Danh mục về án phí, lệ phí Tòa án (Ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016).

- Chấp nhận yêu cầu của bà Phan Thị Anh Đ.

Tuyên bố: Ông Phan Văn Tr, ông Phan Trọng Nh, ông Phan Trọng T, bà Phan Thị Thanh Tr1; cùng nơi cư trú cuối cùng tại: Số đường Bình Thới, Phường MB, Quận XI, Thành phố H là đã chết. Ngày chết được xác định là ngày 02 tháng 12 năm 1986.

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật thì các quan hệ về hôn nhân gia đình và các quan hệ nhân thân khác của ông Phan Văn Tr, ông Phan Trọng Nh, ông Phan Trọng T, bà Phan Thị Thanh Tr1 được giải quyết như đối với một người đã chết. Quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Phan Thị Anh Đ phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0019620 ngày 2/12/2021 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; đương sự đã nộp đủ lệ phí.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định trong hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

- Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trong trường hợp quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

THẨM PHÁN

Cỡ chữ