- Tranh chấp gì? án hành chính — "Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Đức Q.
- Căn cứ chính? Điều 116 Luật Tố tụng hành chính; Điều 143 Luật Tố tụng hành chính; Điều 144 Luật Tố tụng hành chính
| TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 70/2020/QĐPT-HC | Hà Nội, ngày 13 tháng 7 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Đặng Đình Lực;
Các Thẩm phán:
Ông Hoàng Văn Hạnh;
Ông Ngô Tự Học.
Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Văn Hải, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên họp: Bà Lê Thị Thu Hà, Kiểm sát viên cao cấp.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 47/2019/QĐST-HC ngày 29 tháng 11 năm 2019.
Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã căn cứ khoản 5 Điều 38, điểm a khoản 2 Điều 116; điểm g khoản 1 Điều 143; Điều 144 của Luật Tố tụng hành chính, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính thụ lý số 64/2019/TLST-HC ngày 17/9/2019, về việc khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai, giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: Ông Nguyễn Đức Q (tên gọi khác: Nguyễn Văn Q), sinh năm 1953; địa chỉ: Số 1080, đường Lê Lợi, phường K, thành phố G, tỉnh Bắc Giang.
2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thành phố G, tỉnh Bắc Giang. Người đại diện theo pháp luật: Ông Mai S, chức vụ: Chủ tịch; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tiến D, chức vụ: Phó Chủ tịch.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố G. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tiến D, chức vụ: Phó Chủ tịch.
3.2. Ủy ban nhân dân xã Dĩnh Kế, thành phố G, tỉnh Bắc Giang.
3.3. Bà Trần Thị H, sinh năm 1956; địa chỉ: Số 1080, đường Lê Lợi, phường K, thành phố G, tỉnh Bắc Giang.
Ngoài ra, quyết định đình chỉ còn quyết định về án phí, thông báo quyền kháng cáo cho các đương sự.
Tại Biên bản về việc kháng cáo ngày 09/12/2019, ông Nguyễn Đức Q kháng cáo toàn bộ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 47/2019/QĐST-HC ngày 29 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Tại phiên họp, quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, đề nghị: Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Đức Q và giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 47/2019/QĐST-HC ngày 29 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
XÉT THẤY:
1. Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ xét xử vụ án, với lý do: Yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đức Q đã hết thời hiệu khởi kiện.
2. Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án, nội dung kháng cáo của ông Nguyễn Đức Q, Hội đồng phiên họp phúc thẩm, xét thấy:
2.1. Ông Nguyễn Đức Q có đơn khởi kiện ngày 01/8/2019, yêu cầu: Hủy Quyết định số 5173/QĐ-UBND ngày 23/12/2013 của Ủy ban nhân dân thành phốG, về việc cưỡng chế thu hồi 43,1m2 đất (trong đó: 4,9m2 đất ở; 38,2m2 đất cơi nới vào đường giao thông), đối với hộ ông Nguyễn Đức Q, trú tại: Thôn Phố, xã Dĩnh Kế, để thực hiện Quyết định số 4081/QĐ-UBND ngày 25/10/2013 của Ủy ban nhân dân thành phố G.
2.2. Trước đó, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang có Thông báo về việc thụ lý vụ án số 49/2017/TLST-HC ngày 20/7/2017, theo đơn khởi kiện ngày 13/6/2017 của ông Nguyễn Đức Q, với nội dung đề nghị: Hủy Quyết định số 5173/QĐ-UBND ngày 23/12/2013 của Ủy ban nhân dân thành phốG. Tuy nhiên, ngày 21/3/2018, ông Q rút đơn khởi kiện. Do vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 08/2018/QĐST-HC ngày 22/3/2018.
2.3. Sau khi nhận được Quyết định số 5173/QĐ-UBND ngày 23/12/2013, ông Nguyễn Đức Q đã khiếu nại, tại Quyết định số 72/QĐ-UBND ngày 10/01/2014, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phốG ra quyết định giải quyết đơn khiếu nại của ông Q (lần đầu), là không có cơ sở. Căn cứ Biên bản làm việc ngày 12/10/2017, ông Q xác định: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phốG, trả lời ông Q bằng Quyết định số 5173/QĐ-UBND ngày 23/12/2013, ông Q nhận được sau vài ngày, cùng tháng 12/2013. Sau khi nhận được quyết định, ông Q đã khiếu nại lên Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang, gửi qua Bưu chính, nhưng không được trả lời, vụ việc ông Q cũng chưa khởi kiện ra Tòa án, lý do ngày 13/6/2017 mới khởi kiện vụ án, là năm 2014, ông Q đi làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng Ủy ban nhân dân phường nói nếu làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải trừ hành lang giao thông, nên ông Q không làm, năm 2014, 2015 và 2016, ông Q cũng không khởi kiện và cũng không khiếu nại đi đâu. Như vậy, thời điểm từ tháng 12/2013, ông Q nhận được Quyết định số 5173/QĐ-UBND ngày 23/12/2013, đồng thời Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phốG ra quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu ngày 10/01/2014, lời khai ông Q xác định đã khiếu nại lên Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang, gửi qua Bưu chính nhưng không được trả lời. Ngày 01/8/2019, ông Q có đơn khởi kiện vụ án (lần thứ hai) tại Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang. Theo quy định tại Điều 42 của Luật Khiếu nại: “Hết thời hạn giải quyết khiếu nại quy định tại Điều 37 của Luật này mà khiếu nại không được giải quyết hoặc người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật Tố tụng hành chính”. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 3 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính, thì ông Nguyễn Đức Q khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số 5173/QĐ-UBND ngày 23/12/2013 của Ủy ban nhân dân thành phốG, đã quá thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính một năm, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật mà cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền không giải quyết và không có văn bản trả lời cho người khiếu nại.
3. Từ những phân tích trên, Hội đồng phiên họp phúc thẩm, xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ khoản 5 Điều 38; điểm g khoản 1 Điều 143; Điều 144 của Luật Tố tụng hành chính, ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính là đúng pháp luật. Do vậy, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Đức Q. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm áp dụng điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính là chưa chính xác.
4. Do ông Nguyễn Đức Q là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí phúc thẩm. Mặc dù kháng cáo không được chấp nhận, tuy nhiên, căn cứ quy định của pháp luật cấp phúc thẩm miễn án phí phúc thẩm cho ông Nguyễn Đức Q.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 243 Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Đức Q.
2. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 47/2019/QĐST-HC ngày 29 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
3. Án phí phúc thẩm: Miễn án phí hành chính phúc thẩm cho ông Nguyễn Đức Q.
4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - - VKSNDCC tại Hà Nội; - - TAND tỉnh Bắc Giang; - - Cục THADS tỉnh Bắc Giang; - - Các đương sự (theo địa chỉ); - - Lưu: HS, VT. | T.M HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký) Đặng Đình Lực |