- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Việc Hôn nhân và Gia đình"
- Tòa quyết gì? Điểm b Khoản 2 Điều 3, Khoản 2 Điều 6 Luật Hộ tịch.
- Căn cứ chính? Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 69/2022/QĐST-VHNGĐ Ngày: 14/12/2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
(V/v xác định mẹ cho con)
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Minh Mẫn.
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hoài Anh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ tham gia phiên họp: Bà Võ Thị Nhu - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 64/2022/TLST-VHNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2022 về việc xác định mẹ cho con theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 18/2022/QĐST-VHNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Trần Hoài H, sinh ngày 18/02/1983 (Có mặt).
Địa chỉ: Khu vực ThTh, phường Thth, quận C, thành phố C.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ông H: Ông Nguyễn Trung Tr, là luật sư Văn phòng luật sư Thiện Tâm thuộc Đoàn luật sư thành phố Cần Thơ (Có mặt).
Địa chỉ: Số ABC đường Nguyễn Cư Trinh, phường An Nghiệp, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Trương Thị L, sinh ngày 01/01/1956 (Có mặt).
Địa chỉ: Khu vực ThTh, phường Thth, quận C, thành phố C.
2. Ông Trần Văn Tr, sinh năm 1956 (Có yêu cầu vắng mặt).
3. Bà Thái Thị L, sinh năm 1960 (Có yêu cầu vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Khu vực 1, phường HTh, thị xã NgB, tỉnh H.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu và diễn biến tại phiên họp, ông H trình bày và yêu cầu: Vào năm 1983 bà L sinh ông H tại Bệnh viện nhưng vì cuộc sống gia đình khó khăn nên cho vợ chồng ông Tr bà L nuôi dưỡng và được đăng ký khai sinh vào ngày 31/8/1992 tại Ủy ban nhân dân xã Đại Thành, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Cần Thơ (Nay là phường Hiệp Thành, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang). Đến năm 07 tuổi ông thường xuyên được ông Tr bà L kể về nguồn cội và tạo điều kiện gặp gỡ, kết nối tình mẹ con và giữa ông với bà L thường xuyên liên lạc, nhận ra nhau. Đến năm 14 tuổi thì ông xin phép ông Tr bà L về chung sống với mẹ ruột cho đến nay.
Để thuận tiện trong sinh hoạt hằng ngày, rõ ràng pháp lý ông yêu cầu Tòa án xác định bà L là mẹ ruột của mình (Bút lục 35, 42).
Bà L trình bày: Năm 1983 bà sinh ông H, lúc đó hoàn cảnh gia đình quá khó khăn, nghèo khổ không nuôi nổi. Trong lúc này bà có quen biết với ông Tr bà L do lúc đó ông bà chưa có con nên ngỏ ý xin ông H về nuôi dưỡng (làm con nuôi) nên bà đồng ý. Ông H đã được ông Tr bà L đăng ký khai sinh vào ngày 31/8/1992 tại Ủy ban nhân dân xã Đại Thành, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Cần Thơ (Nay là phường Hiệp Thành, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang). Quá trình nuôi dưỡng ông H, vợ chồng ông Tr bà L vẫn tạo điều kiện để bà liên hệ kết nối tình cảm mẹ con từ đó tình nghĩa mẹ con dần khắn khích và nhận ra nhau. Đến năm 14 tuổi được sự đồng ý của ông Tr bà L, ông H đã về chung sống với bà đến nay. Qua kết quả xét nghiệm ADN của Viện sinh học phân tử LOCI vào ngày 28/9/2022 và sự thật đã xảy ra, bà thống nhất ông H yêu cầu Tòa án xác định bà là mẹ ruột ông H (Bút lục 41).
Ông Tr bà L trình bày: Trước năm 1983 vợ chồng ông bà không sinh được con, vào năm 1983 tình cờ quen biết bà L vừa sinh con là ông H. Do bà L có hoàn cảnh khó khăn, nghèo khổ nên xin ông H về nuôi và tiến hành đăng ký khai sinh tại Ủy ban nhân dân xã Đại Thành, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Cần Thơ (Nay là phường Hiệp Thành, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang) vào ngày 31/8/1992. Vợ chồng ông bà vẫn tạo điều kiện để bà L liên lạc, thăm nom ông H và dần nhận ra nhau. Một thời gian sau ông bà sinh được con công với việc ông H thường xuyên giữ liên lạc với bà L, đến năm 17 ông H có mong muốn về chung sống với bà L nên ông bà đồng ý. Nay trước tình cảm ruột thịt, máu mủ mẹ con muốn nhận ra nhau nên ông bà đồng ý để Tòa án xác định bà L là mẹ ruột ông H. Ông bà có đơn xin giải quyết vắng mặt (Bút lục 43).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phát biểu: Theo lời trình bày của ông H, bà L và ông Tr, bà L cùng với kết quả xét nghiệm ADN của Viện sinh học phân tử LOCI vào ngày 28/9/2022 về quan hệ huyết thống giữa ông H với bà L căn cứ xác định bà L là mẹ ruột ông H, do đó yêu cầu của ông H là có căn cứ, đề nghị chấp nhận yêu cầu của ông H. Đối với phần cải chính hộ tịch cho phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án đề nghị Tòa án gửi Quyết định về Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đăng ký khai sinh để cập nhật, thay đổi thuận tiện cho đương sự thực hiện thủ tục cần thiết sau này.
Các vấn đề khác: Không ai có yêu cầu.
Quá trình chuẩn bị mở phiên hợp xét việc, Tòa án có Công văn số 65/CV-TA ngày 02/11/2022 gửi Ủy ban nhân dân phường Hiệp Thành, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang cung cấp thông tin về trường hợp khai sinh của ông H được cấp theo thủ tục nhận con nuôi hay thủ tục thông thường nhưng đã quá thời hạn để mở phiên họp xét việc Ủy ban chưa có văn bản phản hồi.
Tại phiên họp: Ông H giữ nguyên yêu cầu, bà L giữ nguyên lời khai của mình và thống nhất yêu cầu của ông H. Ông H, bà L xác định Giấy khai sunh của ông H được đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã Đại Thành, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Cần Thơ (Nay là phường Hiệp Thành, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang). Ông Tr, bà L vắng mặt.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết việc dân sự: Việc chấp hành pháp luật tố tụng từ thời điểm thụ lý vụ việc đến thời điểm ban hành Quyết định mở phiên họp của Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp, Thư ký phiên họp, của người yêu cầu giải quyết việc dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng các quy định tại các Điều 27, 35, 68, 93, 97, 363, 365 và Điều 366 Bộ luật Tố tụng dân sự. Qua nội dung vụ việc, lời trình bày, kết quả xét nghiệm ADN của Viện sinh học phân tử LOCI vào ngày 28/9/2022 về quan hệ huyết thống giữa ông H với bà L có trong hồ sơ xác định bà L chính là mẹ ruột ông H. Căn cứ các quy định tại căn cứ Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 88 Luật Hôn nhân và Luật Hôn nhân và Gia đình đề nghị chấp nhận yêu cầu của ông H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ nhận định:
Về thẩm quyền, quan hệ pháp luật giải quyết việc dân sự: Bà L sinh ông H vào năm 1983 và cho ông Tr, bà L nuôi dưỡng có đăng ký và được cấp Giấy khai sinh số 217, Quyển số 01 ngày 31/8/1992 tại Ủy ban nhân dân xã Đại Thành, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Cần Thơ (Nay là Ủy ban nhân dân phường Hiệp Thành, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang). Thời gian ông Tr, bà L chung sống, nuôi dưỡng ông H thì bà L vẫn thăm nom, phụ giúp chăm sóc và nhận ra nguồn gốc mẹ con ruột. Nay ông H thực hiện quyền yêu cầu xác định bà L mẹ ruột của mình là đúng thẩm quyền quy định tại Khoản 10 Điều 29, điểm b Khoản 2 Điều 35, điểm t Khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 90, Khoản 2 Điều 101, Khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Theo kết quả xét nghiệm ADN của Viện sinh học phân tử LOCI vào ngày 28/9/2022 về quan hệ huyết thống mẹ con giữa ông H, bà L với tần suất 99.9999795% và lời trình bày của ông H, bà L và ông Tr, bà L là chứng cứ, những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Khoản 2 Điều 92, Điều 93, Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự. Từ những chứng cứ này, xác định được bà Trương Thị L là mẹ ruột của ông Trần Hoài H. Do đó, yêu cầu của ông Trần Hoài H có căn cứ chấp nhận.
Bà Trương Thị L, ông Trần Hoài H, ông Trần Văn Tr, bà Thái Thị L có quyền, nghĩa vụ liên hệ cơ quan đăng ký hộ tịch thực hiện thay đổi hộ tịch theo điểm b Khoản 2 Điều 3, Khoản 2 Điều 6 Luật Hộ tịch.
Các vấn đề khác: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về lệ phí sơ thẩm: Theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án ông Trần Hoài H phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự 300.000 đồng, khấu trừ hết vào tiền tạm ứng lệ phí theo Biên lai số 0008665 ngày 14/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng ông không phải nộp thêm.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 10 Điều 29, điểm b Khoản 2 Điều 35, điểm t Khoản 2 Điều 39, Khoản 2 Điều 92, Điều 93, Điều 95, Điều 371, Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Điều 90, Khoản 2 Điều 101, Khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Điểm b Khoản 2 Điều 3, Khoản 2 Điều 6 Luật Hộ tịch.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên bố: Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Hoài H. Xác định bà Trương Thị L, sinh ngày 01/01/1956 mẹ ruột ông Trần Hoài H, sinh ngày 18/02/1983.
Bà Trương Thị L, ông Trần Hoài H, ông Trần Văn Tr, bà Thái Thị L có quyền, nghĩa vụ liên hệ cơ quan đăng ký hộ tịch thực hiện thay đổi hộ tịch.
Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Trần Hoài H phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự 300.000 đồng, khấu trừ hết vào tiền tạm ứng lệ phí theo Biên lai số 0008665 ngày 14/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng ông không phải nộp thêm.
Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Trường hợp vắng mặt thì thời hạn được tính từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - VKS cùng cấp; - Người yêu cầu; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - UBND P. Hiệp Thành, TP. Ngã Bảy, T. Hậu Giang; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự (TC: 10). | TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký) Nguyễn Minh Mẫn |