vanban.org

Quyết định 69/2018/QĐHNGĐ-ST — Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa bà Viên Thị

Phụng O với ông Phạm Văn S. 2/ Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Viên Thị Phụng O và ông Phạm Văn S cùng phải chịu lệ phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được cấn trừ vào 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí bà Viên Thị Phụng O và ông Phạm Văn S đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án ph… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi — án hôn nhân và gia đình — "Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa bà Viên Thị
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Quyết định số: 69/2018/QĐHNGĐ-ST
Ngày: 23-01-2018
Về việc “Yêu cầu chấm dứt
việc nuôi con nuôi”

QUYẾT ĐỊNH

YÊU CẦU CÔNG NHẬN THỎA THUẬN

CHẤM DỨT VIỆC NUÔI CON NUÔI

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Võ Tuấn Nhu

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp: Bà Nguyễn Thị Đài Trang - Thư

ký Toà án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí

Minh tham gia phiên họp: Bà Trần Ngọc Ánh - Kiểm sát viên.

Đã mở phiên họp ngày 23 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân

quận Tân Bình để giải quyết việc dân sự thụ lý số 1060/2017/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2017 theo Quyết định mở phiên họp số 1060A/2018/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2018 theo yêu cầu của:

Bà Viên Thị Phụng O, năm sinh 1958; địa chỉ: 7/7 Đường H, Phường N, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ông Phạm Văn S, năm sinh 1992; địa chỉ: 7/7 Đường P, Phường V, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN THẤY:

Theo đơn yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi, bản tự khai của bà Viên Thị Phụng O và ông Phạm Văn S trình bày: Ông Phạm Văn S, sinh ngày 27 tháng 12 năm 1992 là con của ông Phạm Chí T và bà Viên Thị Ngọc Y. Vì hoàn cảnh khó khăn nên ngày 22 tháng 7 năm 1998 bà Viên Thị Phụng O nhận ông Phạm Văn S làm con nuôi và được sự đồng ý của ông Phạm Chí T và bà bà Viên Thị Ngọc Y. Nay ông Phạm Văn S đã thành niên, công việc ổn định và việc nuôi con nuôi không cần thiết nữa nên bà Viên Thị Phụng O và ông Phạm Văn S cùng yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi.

Tại phiên họp: Bà Viên Thị Phụng O và ông Phạm Văn S có đơn xin vắng mặt nhưng vẫn giữ nguyên đơn yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đề nghị Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa bà Viên Thị Phụng O và ông Phạm Văn S.

Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc và lời trình bày của các đương sự.

Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

XÉT THẤY:

Bà Viên Thị Phụng O và ông Phạm Văn S cùng làm đơn yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi. Bà Viên Thị Phụng O và ông Phạm Văn S hiện cư trú tại địa chỉ: 7/7 Đường P, Phường V, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là việc dân sự yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi, theo quy định tại khoản 5 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm l khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình.

Căn cứ Giấy giao nhận việc nuôi con nuôi số 02, quyển số 01/1998 ngày 22 tháng 7 năm 1999 của Ủy ban nhân dân V, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp, thể hiện cha của ông Phạm Văn S là ông Phạm Chí T và mẹ là bà Viên Thị Ngọc Y đã đồng ý giao con chung Phạm Văn S, sinh ngày 27 tháng 12 năm 1992 cho bà Viên Thị Phụng O nuôi dưỡng. Như vậy, từ năm 1999 đến nay bà Viên Thị Phụng O là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng ông Phạm Văn S. Nay ông Phạm Văn S đã thành niên, công việc ổn định và việc làm con nuôi không cần thiết nữa nên bà Viên Thị Phụng O và ông Phạm Văn S yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi.

Xét đơn yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của bà Viên Thị Phụng O và ông Phạm Văn S là phù hợp với khoản 5 Điều 29 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 nên Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa bà Viên Thị Phụng O với ông Phạm Văn S.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đề nghị chấp nhận yêu

cầu của bà Viên Thị Phụng O và ông Phạm Văn S.

Xét đơn yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa bà Viên Thị Phụng O với ông Phạm Văn S là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật nên Tòa án công nhận.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng do bà Viên Thị Phụng O và ông Phạm Văn S cùng chịu.

Vì các lẽ nêu trên,

Căn cứ khoản 5 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm l khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, Điều 362, Điều 367, Điều 369 và 370 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Căn cứ Luật phí, lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Chấp nhận yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa bà Viên Thị

Phụng O với ông Phạm Văn S.

2/ Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Viên Thị Phụng O và ông Phạm Văn S cùng phải chịu lệ phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được cấn trừ vào 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí bà Viên Thị Phụng O và ông Phạm Văn S đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0007128 ngày 09 tháng 11 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Viên Thị Phụng O và ông Phạm Văn S đã nộp đủ.

3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị:

Bà Viên Thị Phụng O và ông Phạm Văn S có quyền kháng cáo trong thời

hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết hợp lệ.

Viện kiểm sát nhân quận Tân Bình có quyền kháng nghị quyết định giải

quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự ; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự ;

Cỡ chữ