- Tranh chấp gì? "Ông Nguyễn Văn B kiện Ủy ban nhân dân thành phố TĐ, Thành phố Hồ Chí Minh về “Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đa…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện ông Nguyễn Văn B;
- Căn cứ chính? Điều 143 Luật Tố tụng hành chính; Điều 144 Luật Tố tụng hành chính; Điều 243 Luật Tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 689/2023/QĐ-PT | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 16 tháng 8 năm 2023. |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Đỗ Đình Thanh
Các Thẩm phán:
Ông Đặng Văn Ý
Ông Ngô Mạnh Cường
- Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung – Thư ký Tòa án nhân
dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Văn Đức – Kiểm sát viên.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số:
432/2023/QĐST-HC ngày 03 tháng 4 năm 2023, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ vào khoản 5 Điều 38, điểm g khoản 1 Điều 143 và Điều 144 của Luật Tố tụng hành chính quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về “Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”; giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1976; địa chỉ: Số 45/5
Đường 16, Khu phố 2, phường TML, thành phố TĐ, Thành phố Hồ Chí Minh;
Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện (theo Giấy ủy quyền
ngày 02/11/2022): Ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1967; địa chỉ: Số 68, Tổ 27, Khu phố 3A, phường TD, thành phố BH, tỉnh Đồng Nai;
- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thành phố TĐ, Thành phố Hồ Chí Minh;
địa chỉ: Số 168 TVB, phường TML, thành phố TĐ, Thành phố Hồ Chí Minh;
Tại Đơn kháng cáo ngày 26/4/2023, người khởi kiện ông Nguyễn Văn B
kháng cáo toàn bộ nội dung Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số: 432/2023/QĐST-HC ngày 03/4/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, với lý do Ủy ban nhân dân Quận 2 (nay là thành phố TĐ), Thành phố Hồ Chí Minh ghi trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây viết tắt là GCN QSDĐ) có nội dung ông B nợ tiền sử dụng đất 134.400.000 đồng là trái quy định của pháp luật; do đó, ông B đề nghị hủy GCN QSDĐ số BV 343004, thửa 666, tờ bản đồ số 13, diện tích 100m2 do Ủy ban nhân dân Quận 2 (nay là thành phố TĐ), Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 17/9/2015 cho ông B.
XÉT THẤY:
Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn B nộp trong thời hạn và đúng thủ
tục theo quy định của Luật Tố tụng hành chính nên hợp lệ, được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của
người đại diện theo ủy quyền của đương sự kháng cáo tại phiên họp phúc thẩm, có đủ cơ sở xác định:
Trong vụ án này, ông Nguyễn Văn B khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân
dân Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết: Hủy GCN QSDĐ số BV 343004, thửa 666, tờ bản đồ số 13, diện tích 100m2 do Ủy ban nhân dân Quận 2 (nay là thành phố TĐ), Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 17/9/2015 cho ông Nguyễn Văn B; Hội đồng phúc thẩm nhận thấy:
[2.1a] Tại Biên bản làm việc ngày 23/3/2023, ông Nguyễn Văn Th là người
đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện ông Nguyễn Văn B trình bày: “Năm 2015, ông Nguyễn Văn B nhận được GCN QSDĐ số BV 343004, số vào sổ CH 04381 do Ủy ban nhân dân Quận 2 (nay là thành phố TĐ) cấp cho ông B ngày 17/9/2015 và biết được nội dung ghi nợ tiền sử dụng đất trên Giấy chứng nhận nêu trên. Năm 2018, ông B đến Ngân hàng thế chấp Giấy chứng nhận này để vay tiền nhưng do trên Giấy chứng nhận có nội dung ghi nợ tiền sử dụng đất nên Ngân hàng không cho vay. Ông B không khiếu nại. Đến năm 2022, ông B mới thực hiện khởi kiện tại Tòa án”.
[2.1b] Ngày 09/9/2022 (theo dấu của tổ chức dịch vụ bưu chính), ông
Nguyễn Văn B nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị hủy GCN QSDĐ số BV 343004 thửa 666, tờ bản đồ số 13, diện tích 100m2 do Ủy ban nhân dân Quận 2 (nay là thành phố TĐ), Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 17/9/2015 cho ông B là đã hết thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định đình chỉ giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 143 Luật Tố tụng hành chính.
[2.1c] Từ những nhận định và căn cứ nêu trên, Hội đồng phúc thẩm thống
nhất với quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên họp, không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện ông Nguyễn Văn B; giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số: 432/2023/QĐST-HC ngày 03/4/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đương sự kháng cáo ông Nguyễn Văn B phải chịu án phí hành chính
phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 34 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 243 của Luật Tố tụng hành chính;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện ông Nguyễn Văn B;
Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số:
432/2023/QĐST-HC ngày 03 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Án phí hành chính phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn B phải nộp 300.000 (ba
trăm nghìn) đồng; nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm đã nộp (do ông Nguyễn Văn Th nộp thay) theo Biên lai thu số AA/2021/0004605 ngày 12/5/2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh; ông B đã nộp đủ án phí hành chính phúc thẩm.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định là ngày 16
tháng 8 năm 2023./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSNDCC tại TP.HCM; - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh; - Cục THADS Thành phố Hồ Chí Minh; - Các đương sự; - Lưu: VP, HS, NTHN (17b). | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Đỗ Đình Thanh |