- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Thái Lệ A.
- Căn cứ chính? Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH _______________________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 685/2018/QĐDS-ST | Tp. Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 11 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: “Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự”
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Mai Hiếu Hạnh.
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thảo Sương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên họp: Ông Hoàng Thế Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10 thành phố Hồ Chí Minh, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 540/2018/TLST- DS ngày 23 tháng 10 năm 2018 về việc “Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 26/QĐST-DS ngày 20 tháng 11 năm 2018, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Thái Lệ A, sinh năm 1963
(Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)
Thường trú: Đường P, Phường M, Quận U, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Thái Thị Hồng N, sinh năm 1967;
2. Ông Thái Như T1, sinh năm 1970.
(Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)
Cùng thường trú: Đường P, Phường M, Quận U, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Ông Thái Như T có cha là ông Thái Đệ (đã chết) và mẹ là bà Nguyễn Thị Đầm (chết năm 2016), ông T chưa đăng ký kết hôn, còn độc thân. Hiện ông T đang ở cùng chị gái là bà Thái Lệ A.
Năm 1992, do di chứng của tai nạn giao thông ông Thái Như T bị chẩn đoán mắc bệnh tâm thần phân liệt, được điều trị tại bệnh viện tâm thần theo Nghị định 67/CP. Đến nay, tình trạng bệnh ngày càng trầm trọng, ông T không thể kiểm soát được hành vi của mình, không nhận thức được đúng sai. Nay bà Thái Lệ A có đơn gửi Tòa án nhân dân Quận 10 yêu cầu tuyên bố ông Thái Như T mất năng lực hành vi dân sự.
Tại các bản tự khai, bà A và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu tuyên bố ông Thái Như T mất năng lực hành vi dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên họp có ý kiến như sau: Căn cứ vào Điều 22 Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị Tòa án nhân dân Quận 10 chấp nhận yêu cầu của bà Thái Lệ A, tuyên bố ông Thái Như T, sinh năm 1965, địa chỉ Đường P, Phường M, Quận U, Thành phố Hồ Chí Minh mất năng lực hành vi dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự đươc thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện của Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:
Về quan hệ giữa các đương sự và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Bà Thái Lệ A yêu cầu tuyên bố ông Thái Như T mất năng lực hành vi dân sự và ông T có nơi cư trú tại Quận 10, nên yêu cầu của bà A là yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bà A, bà N, ông T1 có đơn yêu cầu vắng mặt tại phiên họp. Căn cứ Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên họp vắng mặt các đương sự.
Căn cứ sổ hộ khẩu gia đình và giấy khai sinh của ông Thái Như T được Phòng lục sự tòa sơ thẩm Phong - Dinh cấp ngày 29/6/1965, trích lục khai sinh của bà Thái Lệ A được Tòa hành chánh Quận 5 cấp ngày 22/7/1970, có cơ sở xác định bà A là chị ruột của ông Thái Như T, nên bà A có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Thái Như T mất năng lực hành vi dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 376 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về yêu cầu của đương sự:
Ngày 30/10/2018 Tòa án nhân dân Quận 10 có Quyết định số 30/2018/QĐ-TCGĐ trưng cầu Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Thành phố Hồ Chí Minh giám định năng lực hành vi dân sự đối với ông Tuấn. Tại Kết luận giám định Pháp y Tâm thần số 4720/2018/KLGĐTC ngày 05/11/2018 của Trung tâm Giám định pháp y tâm thần khu vực Thành phố Hồ Chí Minh đã có kết luận đối với ông Thái Như T: “đương sự bị bệnh tâm thần phân liệt thể di chứng tiến triển từng giai đoạn với thiếu sót tăng dần (F20.51-ICD10), mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”.
Căn cứ khoản 1 Điều 22 của Bộ luật dân sự, Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Thái Lệ A.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự:
Bà Thái Lệ A phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật là 300.000 đồng.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm a khoản 2 Điều 39; Điều 143; 144; khoản 1 Điều 149; Điều 361; 372; khoản 1 Điều 376 và Điều 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Căn cứ khoản 1 Điều 22 của Bộ luật Dân sự.
- Căn cứ khoản 1 Điều 6; khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu của bà Thái Lệ A.
Tuyên bố: Ông Thái Như T, sinh năm 1965 mất năng lực hành vi dân sự.
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: 300.000 đồng, bà Thái Lệ A có nghĩa vụ chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2018/0016509 ngày 18/10/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Thái Lệ A đã nộp đủ lệ phí sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Kề từ ngày Tòa án ra quyết định, người yêu cầu có quyền kháng cáo, Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày; Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày./.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND Q10; - Chi cục THADS Q10; - Các đương sự; - Lưu VP, hồ sơ. | THẨM PHÁN Mai Hiếu Hạnh |