vanban.org

Quyết định 68/QĐ-TA

TAND Q. Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 20/01/2025 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Ủy ban nhân dân Thành phố H thành lập đối với ông Lương Kim T tại Cơ sở cai nghiện ma túy B.

Cơ sở tiếp nhận ban đầu là: Cơ sở tư vấn và cai nghiện ma túy B. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 21 (Hai mươi mốt) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Ủy ban nhân dân Thành phố H thành lập đối với ông Lương Kim T tại Cơ sở cai nghiện ma túy B.
  • Căn cứ chính? Điều 108 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Nghị định số 105/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn t…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 68/QĐ-TAGò Vấp, ngày 20 tháng 01 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần tiến hành phiên họp tại điểm cầu trung tâm gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Lê Thị Thành Huế

2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Minh Tú

Ngày 20 tháng 01 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân quận G, Thành phố H và điểm cầu thành phần Cơ sở tư vấn và cai nghiện ma túy B, tiến hành phiên họp trực tuyến xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hồ sơ thụ lý số 51/2025/TL-XLHC ngày 10 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định mở phiên họp số 46/QĐ-TA ngày 13 tháng 01 năm 2025, đối với:

Lương Kim T, sinh năm 1985; Giới tính: Nam; CCCD: 07XXXXXXXXXX; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Nguyên quán: Thành phố H; Hộ khẩu thường trú: số 4 P, Phường C, quận G, Thành phố H; Nơi cư trú: không có nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông: Lương Văn N và bà: Phan Thị N; Tiền án: Ngày 25/01/2005 bị Tòa án nhân dân quận G xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” (theo Bản án số 19/HSST); Ngày 12/12/2006 bị Tòa án nhân dân quận G xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” (theo Bản án số 337/HSST); Ngày 28/8/2010 bị Tòa án nhân dân huyện H xử phạt 06 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” (theo Bản án số 116/HSST); Tiền sự: 02.

(Có mặt tại điểm cầu thành phần Cơ sở tư vấn và cai nghiện ma túy B)

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị tại điểm cầu trung tâm: Ông Trần Trung Dũng – Cán bộ Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận G.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận G tại điểm cầu trung tâm: Bà Nguyễn Thị Cẩm Thu – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Ngày 03/11/2024. Công an Phường M, quận G, Thành phố H nghi vấn ông Lương Kim T sử dụng chất ma túy trái phép nên mời về trụ sở để làm việc. Công an Phường M đưa đến Trung tâm y tế quận G – Trạm y tế Phường M để xét nghiệm, kết quả ông Lương Kim T dương tính với ma túy đá (Methamphetamin (MET)). Tại Bản tường trình ngày 03/11/2024, ông Lương Kim T thừa nhận bản thân có sử dụng chất trái phép chất ma túy. Do ông Lương Kim T không có nơi cư trú ổn định, không đăng ký cai nghiện tự nguyện nên Công an Phường M, quận G và Ủy ban nhân dân Phường M, quận G đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lương Kim T.

Ngày 09/01/2025, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận G có văn bản đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lương Kim T.

Tại phiên họp:

Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận G ý kiến: Do ông Lương Kim T nghiện ma túy, không có nơi cư trú ổn định và không đăng ký cai nghiện tự nguyện nên các cơ quan có thẩm quyền đã lập hồ sơ theo đúng trình tự thủ tục, quy định của pháp luật. Nay đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện ma túy B đối với ông Lương Kim T thời hạn 21 tháng đến 24 tháng.

Ông Lương Kim T xác nhận bản thân có sử dụng trái phép chất ma túy (Methamphetamin (MET)), thường xuyên sống lang thang, không nơi cứ trú ổn định, không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyên. Nay không có ý kiến gì đối với việc đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận G.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận G xác định việc tuân theo pháp luật về việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính cơ sở cai nghiện bắt buộc được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Đề nghị Toà án nhân dân quận Gò Vấp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lương Kim T theo đề nghị của Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội quận G.

XÉT THẤY:

Tòa án nhân dân quận G xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội quận G là đúng thẩm quyền được quy định tại khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính và khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân.

Ngày 03/11/2024, Công an Phường M, quận G phát hiện ông Lương Kim T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên lập biên bản vi phạm hành chính, đến thời điểm mở phiên họp hôm nay là còn thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020).

Căn cứ Biên bản vi phạm hành chính, Biên bản xét nghiệm chất ma túy của Công an Phường M, quận G, Thành phố H, bản tường trình do ông Lương Kim T ký tên, phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy do Cơ sở tư vấn và cai nghiện ma túy B lập thể hiện ông Lương Kim T nghiện ma túy (Methamphetamin (MET)).

Căn cứ kết quả xác minh tình trạng cư trú của Công an Phường C, quận G, Thành phố H xác định ông Lương Kim T có hộ khẩu thường trú tại 4 P, Phường C, quận G nhưng đã bán nhà từ năm 2010 và không thực tế cư trú tại địa phương.

Căn cứ kết quả xác minh tình trạng cư trú của Công an phường H, Quận M, Thành phố H xác định ông Lương Kim T có khai báo nơi ở tại 1 B, khu phố 4, phường H, Quận M nhưng không thường xuyên sinh sống tại địa chỉ trên.

Căn cứ bản tóm tắt lý lịch có xác nhận của Công an Phường M, quận G và trích lục tiền án, tiền sự của Phòng hồ sơ nghiệp vụ, Công an Thành phố H thì ông Lương Kim T có 03 tiền án, 02 tiền sự.

Từ những căn cứ nêu trên đã có đủ cơ sở xác định: Ông Lương Kim T là người Việt Nam trên 18 tuổi, không có nơi cư trú ổn định, có nhân thân xấu và nghiện ma túy, không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện nên thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), Điều 32 của Luật phòng chống ma túy năm 2021 và các Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ. Do đó, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội quận G đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lương Kim T là có cơ sở.

Xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lương Kim T được Công an Phường M, quận G; Ủy ban nhân dân Phường M, quận G; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận G lập đúng và đầy đủ theo trình tự thủ tục do pháp luật quy định.

Xét ông Lương Kim T là người Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên và biết rõ ma túy là chất độc hại và sử dụng ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý sử dụng ma túy để thỏa mãn cơn nghiện. Hành vi của ông Lương Kim T đã xâm phạm đến chủ trương chính sách của Nhà nước về phòng chống tệ nạn ma túy và là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn khu dân cư do đó việc áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lương Kim T là cần thiết.

Xét thấy, ông Lương Kim T qua xác định là nghiện ma túy (Methamphetamin (MET)) nên cần phải có thời gian cai nghiện dài mới giúp ông Lương Kim T từ bỏ việc sử dụng ma túy.

Xét nhân thân ông Lương Kim T có 03 tiền án về tội “Cướp giật tài sản”, 02 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đã được đưa vào trường giáo dưỡng và cơ sở chữa bệnh.

Tuy nhiên cũng xem xét cho ông Lương Kim T một số tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên họp thể hiện sự thành khẩn khai nhận, thành thật hối lỗi, nhận thức được tác hại nguy hiểm của việc sử dụng chất ma túy. Có biểu hiện tốt trong thời gian lưu trú tại cơ sở, chấp hành tốt trong điều trị nghiện và các nội quy, quy định của Cơ sở tư vấn và cai nghiện ma túy B.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 2; điểm a khoản 1 Điều 3; Điều 23; Điều 24; Điều 25; khoản 1 Điều 30; Điều 31 và Điều 32 của Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

Căn cứ Điều 3; Điều 6; Điều 9; Điều 10; Điều 95; Điều 96; khoản 2 Điều 105; Điều 106; Điều 107; khoản 2, khoản 3 Điều 108 và điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020);

Căn cứ khoản 12 Điều 2; Điều 5 và khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy năm 2021;

Căn cứ Nghị định số 105/2021/NĐ-CP ngày 04/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống ma túy;

Căn cứ Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy;

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Ủy ban nhân dân Thành phố H thành lập đối với ông Lương Kim T tại Cơ sở cai nghiện ma túy B.

Cơ sở tiếp nhận ban đầu là: Cơ sở tư vấn và cai nghiện ma túy B.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 21 (Hai mươi mốt) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Trong thời hạn cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan biết.

3. Ông Lương Kim T có quyền khiếu nại, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận G, Thành phố H có quyền kiến nghị và Viện kiểm sát nhân dân quận G, Thành phố H có quyền kháng nghị trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định này.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Cơ sở cai nghiện ma túy B.

Cỡ chữ