vanban.org

Quyết định 68/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T, tại Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội tỉnh Bình Phước.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 ( mười hai) tháng, kể từ ngày Nguyễn Văn T bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định người bị đề nghị có quyền khiếu nại, Phòng Lao động và Thương binh – Xã hội huyện B có quyề… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "QĐ ADBPXLHC CNBB"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T, tại Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội tỉnh Bình Phước.
  • Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 3 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÙ ĐĂNG
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 68/QĐ-TABù Đăng, ngày 29 tháng 12 năm 2017

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Trần Thị Thu Hà

2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Mạnh Hùng

Ngày 29 tháng 12 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 68/QĐ-TA, ngày 21 tháng 12 năm 2017. Đối với:

Họ và tên: Nguyễn Văn T; Sinh năm: 1990

Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 7/12;

HKTT: Thôn 2, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị Phòng lao động Thương Binh xã hội huyện Bù Đăng: ông Trần Minh Tuấn

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước: bà Nguyễn Thị Ngọc Tiên - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Hành vi vi phạm của Nguyễn Văn T có trong các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ như sau:

Ngày 27/7/2017, Chủ tịch UBND xã Đ ra quyết định về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã đối với Nguyễn Văn T với thời gian 03 tháng.

Sau khi chấp hành thời gian giáo dục tại xã, Nguyễn Văn T không tiến bộ mà vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 29/11/2017 Nguyễn Văn T bị Công an huyện B phát hiện lập hồ sơ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Căn cứ vào Biên bản xét nghiệm chất ma túy và phiếu trả lời kết quả xác định người nghiện ma túy của Trạm y tế xã Đ về tình trạng hiện tại của Nguyễn Văn T đều xác định Nguyễn Văn T có nghiện chất ma túy, loại ma túy sử dụng là methaphetamin. Tại Bản tường trình và Biên bản ghi lời khai ngày 29/11/2017, Nguyễn Văn T cũng thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma túy lần cuối cùng vào ngày 29/11/2017.

Ngày 30/11/2017, UBND xã Đ, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước đã ban hành Quyết định số: 213/QĐ-UBND, Quyết định giao Nguyễn Văn T cho gia đình quản lý trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Ngày 01/12/2017, Công an huyện B đã thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ( viết tắt là CSCNBB) ; Báo cáo đề nghị số 09/ĐN-CAH gửi Phòng tư pháp về việc đề nghị đưa đối tượng Nguyễn Văn T vào CSCNBB.

Ngày 08/12/2017, Phòng tư pháp huyện B đã ban hành thông báo số 70/TB-TP về việc kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đưa đối tượng vào CSCNBB và đề nghị Phòng Lao động thương binh xã hội chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa vào CSCNBB đối với Nguyễn Văn T.

Ngày 13/12/2017, Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng nhận được công văn số 159/CV-LĐTBXH của Phòng lao động thương binh và xã hội huyện B đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào CSCNBB đối với Nguyễn Văn T.

Tại phiên họp: Đại diện cho cơ quan đề nghị có ý kiến như sau: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào CSCNBB đối với đối tượng Nguyễn Văn T vào Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội tỉnh Bình Phước với thời hạn 12 tháng.

Tại phiên họp người bị đề nghị Nguyễn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi và quá trình sử dụng trái phép chất ma túy, bị áp dụng quyết định giáo dục tại xã Đ trong thời hạn 03 tháng, sau khi chấp hành quyết định giáo dục tại xã thì đối tượng T tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy lần cuối vào ngày 29/11/2017.

Đại diện UBND xã Đ, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước đề nghị Tòa án quyết định áp dụng biện pháp đưa vào CSCNBB đối với Nguyễn Văn T theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng có ý kiến như sau: Thẩm phán tuân theo đúng quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục, việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào CSCNBB đối với Nguyễn Văn T và đề nghị đưa Nguyễn Văn T vào cơ CSCNBB với thời hạn là 12 tháng.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc, căn cứ vào ý kiến trình bày của người bị đề nghị, cơ quan đề nghị và những người tham gia phiên họp khác.

XÉT THẤY:

Về thẩm quyền: Đối tượng Nguyễn Văn T có HKTT và cư trú tại: Thôn 2, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. Căn cứ Điều 3 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biên pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính ( viết tắt là luật XLVPHC) thì việc quyết định đưa vào cơ CSCNBB đối với Nguyễn Văn T thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào CSCNBB đã đầy đủ và đúng thẩm quyền lập hồ sơ cũng như trình tự, thủ tục lập hồ sơ theo quy định tại Điều 103, khoản 2 Điều 104 Luật XLVPHC năm 2012 và Điều 9 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào CSCNBB.

Đối tượng Nguyễn Văn T có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hành chính, có nơi cư trú ổn định tại: Thôn 2, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. Ngày 27/7/2017, Chủ tịch UBND xã Đ ra quyết định về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã đối với Nguyễn Văn T với thời gian 03 tháng. Sau khi chấp hành thời gian giáo dục tại xã, Nguyễn Văn T vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 29/11/2017 bị Công an huyện Bù Đăng phát hiện lập hồ sơ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Căn cứ vào Biên bản xét nghiệm chất ma túy và phiếu trả lời kết quả xác định người nghiện ma túy của Trạm y tế xã Đ về tình trạng hiện tại của Nguyễn Văn T đều xác định Nguyễn Văn T có sử dụng chất ma túy, loại ma túy sử dụng là Methaphetamin Tại Bản tường trình và Biên bản ghi lời khai ngày 29/11/2017 đối tượng Nguyễn Văn T cũng thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma túy lần cuối cùng vào ngày 29/11/2017, do đó có cơ sở xác Nguyễn Văn T thuộc đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào CSCNBB và vẫn còn trong thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96, điểm d khoản 2 Điều 6 của Luật XLVPHC và Điều 3, điều 4 của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn T đã vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống tệ nạn xã hội quy định tại Điều 21 khoản 1 Nghị định 167/2013/NĐ- CP ngày 12/11/2013, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương và là tiền đề phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do đó cần xem xét áp dụng biện pháp đưa vào CSCNBB đối với Nguyễn Văn T là cần thiết.

Tuy nhiên, trong quá trình lập hồ sơ và tại phiên họp Nguyễn Văn T đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi đây là tình tiết giảm nhe được quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật XLVPHC. Do đó cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần khi quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Nguyễn Văn T.

Từ những nhận định nêu trên và đề nghị của Phòng lao động thương binh xã hội huyện B, những người tham gia tố tụng khác. Xét thấy cần áp dụng biện pháp đưa vào CSCNBB đối với Nguyễn Văn T là đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T, tại Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội tỉnh Bình Phước.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 ( mười hai) tháng, kể từ ngày Nguyễn Văn T bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định người bị đề nghị có quyền khiếu nại, Phòng Lao động và Thương binh – Xã hội huyện B có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng có quyền kháng nghị. Nếu người bị đề nghị vắng mặt tại phiên họp thì thời hạn khiếu nại là 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước phối hợp với Phòng Lao động và Thương binh – Xã hội huyện Bù Đăng.

Cỡ chữ