- Tranh chấp gì? "Nguyễn Thị Hồng T1 - UBND tỉnh Đ"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Hồng T1 đối với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 31/2017/QĐST-HC ngày 31/10/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Đ.
- Căn cứ chính? Điều 143 Luật tố tụng hành chính; Điều 144 Luật tố tụng hành chính; Điều 243 Luật tố tụng Hành chính
| TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 67/2018/QĐ-PT | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 3 năm 2018. |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Phạm Văn Công
Các Thẩm phán:
- Ông Đặng Quốc Khởi
- Ông Nguyễn Văn Hùng
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Ông Hà Văn Hừng - Kiểm sát viên cao cấp.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 31/2017/QĐST-HC ngày 31/10/2017;
Tòa án nhân dân tỉnh Đ đã căn cứ vào khoản 5 Điều 38; điểm g khoản 1 Điều 143 và Điều 144 của Luật tố tụng hành chính quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về “Khiếu kiện yêu cầu hủy bỏ phần liên quan đến quyết định về việc giải tỏa mặt bằng và yêu cầu duyệt kinh phí bồi thường” giữa:
- Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Hồng T1, sinh năm 1958;
Địa chỉ: Số 01, Khu phố 5, phường Tam Hiệp, thành phố B, tỉnh Đ
- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân tỉnh Đ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đỗ Quang T3, sinh năm 1988;
Địa chỉ: Số 01, Khu phố 5, phường Tam Hiệp, thành phố B, tỉnh Đ
Tại đơn kháng cáo ngày 09/11/2017, người khởi kiện bà Nguyễn Thị Hồng T1 kháng cáo với lý do đến ngày 18/8/2016 thì bà mới được biết quyết định 686/QĐ-UBT ngày 14/4/1994 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ nên ngày 09/3/2017 bà nộp đơn khởi kiện là chưa hết thời hiệu khởi kiện;
XÉT THẤY:
Quyết định 686/QĐ-UBT ngày 14/4/1994 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ có nội dung thu hồi 4.000 m2 đất của 01 cơ quan và 04 hộ dân, trong đó có hộ gia đình ông Đỗ Khắc T2 (Chồng bà Nguyễn Thị Hồng T1).
Vào tháng 7/1994 ông T2 đã nhận tiền đền bù và trong năm 1994 ông T2 đã nhận 200 m2 đất tái định cư theo Quyết định số 475/QĐ-UB ngày 08/6/1994 của Ủy ban nhân dân thành phố B, chứng tỏ ngay từ năm 1994 gia đình ông T2 đã biết chủ trương thu hồi đất và đã thực hiện Quyết định 686/QĐ-UBT ngày 14/4/1994 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ bằng việc nhận tiền đền bù và đất tái định cư, nhưng đến ngày 27/3/2017 mới khởi kiện là đã hết thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật tố tụng hành chính năm 2015. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Hồng T1 theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Căn cứ vào Điều 243 của Luật tố tụng Hành chính;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Hồng T1 đối với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 31/2017/QĐST-HC ngày 31/10/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Đ.
2. Bà Nguyễn Thị Hồng T1 phải nộp án phí hành chính phúc thẩm 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) và được khấu trừ tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 001164 ngày 13/11/2017 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đ nên không phải nộp thêm.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./.
TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
| Nơi nhận: - VKSNDCC tại TP.HCM - Tòa án nhân dân tỉnh Đ - VKSND tỉnh Đ - Các đương sự - Lưu HS, VP | Phạm Văn Công |