- Tranh chấp gì? Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Hủy kết hôn trái pháp luật"
- Tòa quyết gì? 39, các Điều 149, 361, 367, 369, 370, 371 và 372 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 667/2023/QĐST - HNGĐ | Huyện Hóc Môn, ngày 04 tháng 7 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật và công nhận quan hệ hôn nhân
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Phạm Thị Lệ Hà
- Thư ký phiên họp: Bà Võ Lâm Minh Thư –Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí
Minh tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn,
Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự
thụ lý số 458/2023/TLST-DS ngày 11 tháng 5 năm 2023 về việc “Yêu cầu huỷ
việc kết hôn trái pháp luật và công nhận quan hệ hôn nhân”, theo Quyết định
mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 229/2023/QĐST- DS ngày 20
tháng 6 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Trần Thị Kim L, sinh năm 1961.
Địa chỉ: Số 9/6V ấp Chánh 2, xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn, Thành phố
Hồ Chí Minh.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn C, sinh năm 1957;
Địa chỉ: Số 9/6V ấp Chánh 2, xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn, Thành phố
Hồ Chí Minh.
- Uỷ ban nhân dân xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh;
Địa chỉ: Số 122 Lê Thị Hà, xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn, Thành phố
Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo Đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 19 tháng 4 năm 2023 và
các Bản tự khai ngày 05 tháng 6 năm 2023, người yêu cầu bà Trần Thị Kim L
trình bày:
Bà Trần Thị Kim L và ông Nguyễn C sống chung từ 16/5/2011 có tổ
chức lễ cưới và đăng ký kết hôn năm 2011 tại Uỷ ban nhân dân xã Tân Xuân. Sau khi xây dựng gia đình, bà và ông C sống hạnh phúc ở nhà chồng tại số 9/6V ấp Chánh 2, xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh từ khi đăng ký đến nay. Đến 18/6/2015, ông C có giấy triệu tập ly hôn giữa bà Hồ Thị Hiếu nên bà L mới biết trước khi lấy bà, ông C có đăng ký kết hôn với bà Hiếu vào năm 2005. Vì vậy, bà L yêu cầu huỷ hôn trái pháp luật giữa bà với ông Nguyễn C từ 16/5/2011 đến 18/6/2015, quá trình chung sống không có con chung và tài sản, nợ chung. Đồng thời, bà L yêu cầu Toà án công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà và ông C từ 19/6/2015 đến nay.
Theo Bản tự khai ngày 05 tháng 6 năm 2023, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan ông Nguyễn C trình bày:
Ông và bà L sống chung từ 16/5/2011 có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết
hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Tân Xuân. Sau khi kết hôn, bà và ông C sống hạnh phúc ở nhà chồng tại số 9/6V ấp Chánh 2, xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh từ khi đăng ký đến nay. Trước khi kết hôn với bà L, ông có đăng ký kết hôn với bà Hồ Thị Hiếu vào năm 2005, vì không hiểu biết pháp luật nên khi chưa ly hôn với bà Hiếu mà đăng ký kết hôn với bà L. Đến 18/6/2015, ông và bà Hồ Thị Hiếu ly hôn tại Toà án nhân dân huyện Hóc Môn. Nay, ông chấp nhận huỷ kết hôn trái pháp luật giữa bà L với ông Nguyễn C từ 16/5/2011 đến 18/6/2015 và được Toà án công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà L và ông C từ 19/6/2015 đến nay vì ông bà vẫn chung sống hạnh phúc.
Tại Công văn số 891/UBND ngày 23/5/2023, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan Uỷ ban nhân dân xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày:
Qua rà soát hồ sơ đang lưu trữ, Uỷ ban nhân dân xã Tân Xuân nhận thấy
khi đề nghị Uỷ ban nhân dân xã Tân Xuân đăng ký kết hôn ông Nguyễn C có làm bản cam kết về việc kể từ khi vợ là bà Trần Thị Thu Ba chết cho tới ngày 16/5/2011 thì ông chưa đăng ký kết hôn với ai. Ngày 16 tháng 5 năm 2011, Uỷ ban nhân dân xã Tân Xuân đăng ký kết hôn cho ông Nguyễn C và và Trần Thị Kim L theo kết hôn số 42, quyển số 01/2011.
Vừa qua, bà Trần Thị Kim L có liên hệ Uỷ ban nhân dân xã Tân Xuân để
đề nghị cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho ông Nguyễn C. Trong tập hồ sơ bà Trần Thị Kim L mang theo, Uỷ ban nhân dân xã Tân Xuân phát hiện có Quyết định ly hôn giữa ông Nguyễn C và bà Hồ Thị Hiếu theo Quyết định số 521/2015/QĐST-HNGĐ ngày 18/5/2015 của Toà án nhân dân huyện Hóc Môn.
Do đó, Uỷ ban nhân dân xã Tân Xuân đã từ chối giải quyết việc cấp giấy xác
nhận tình trạng hôn nhân cho ông Nguyễn C và đề nghị bà Trần Thị Kim L liên
hệ Toà án nhân dân huyện Hóc Môn để yêu cầu huỷ hôn trái pháp luật.
Nay Uỷ ban nhân dân xã Tân Xuân cung cấp toàn bộ hồ sơ gồm các bản
pho to: Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, tờ khai đăng ký kết hôn, giấy chứng
tử của bà Trần Thị Thu Ba, giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của bà Trần Thị
Kim L, bản cam đoan của ông Nguyễn C để Toà án nhân dân huyện Hóc Môn
được biết.
Tại phiên họp:
- Bà Nguyễn Thị Kim L có mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu huỷ kết hôn
trái pháp luật giữa ông Nguyễn C và bà Nguyễn Thị Kim L từ 16/5/2011 đến
18/6/2015. Đồng thời yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân của Trần Thị Kim L
và ông Nguyễn C kể từ thời điểm đủ các điều kiện kết hôn, tức là kể từ ngày
19/6/2015.
- Ông Nguyễn C có mặt và cùng ý kiến yêu cầu huỷ kết hôn trái pháp luật
giữa ông Nguyễn C và bà Nguyễn Thị Kim L từ 16/5/2011 đến 18/6/2015 và
công nhận quan hệ hôn nhân của ông và bà Trần Thị Kim L từ 19/6/2015.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Uỷ ban nhân dân xã Tân Xuân
vắng mặt.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí
Minh phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý cũng như quá trình giải
quyết, Toà án, Thẩm phán, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã tuân theo
đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết giải quyết việc dân sự: Ngày 16/5/2011, bà Trần Thị
Kim L đăng ký kết hôn với ông Nguyễn C tại Ủy ban nhân dân xã Tân Xuân,
huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời điểm này ông Nguyễn C đang
là chồng hợp pháp của bà Hồ Thị Hiếu theo Giấy đăng ký kết hôn số 87 ngày
21/9/2005 của Ủy ban nhân dân thị trấn Mỏ Cày, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre
cấp. Đến ngày 18/6/2015 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, quyết định công
nhận thuận tình ly hôn giữa bà Hồ Thị Hiếu và ông Nguyễn C. Như vậy, quan hệ
hôn nhân giữa bà Trần Thị Kim L và ông Nguyễn C từ ngày 16/5/2011 đến ngày
18/6/2015 là quan hệ hôn nhân trái pháp luật quy định tại điểm c khoản 2 Điều 5
Luật hôn nhân gia đình. Bà Trần Thị Kim L và ông Nguyễn C có yêu cầu hủy
kết hôn trái pháp luật giữa ông C và bà L từ ngày 16/5/2011 đến ngày 18/6/2015
là có căn cứ chấp nhận. Bà Trần Thị Kim L và ông Nguyễn C có yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân từ ngày 18/6/2015 là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Luật hôn nhân gia đình. Căn cứ Điều 8, Điều 11 Luật hôn nhân gia đình; Điều 362, 363, 365, 366, 367, 369, 370 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận toàn bộ yêu C của bà Trần Thị Kim L và ông Nguyễn C.
VNHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được
thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Bà Trần Thị Kim L yêu cầu giải quyết việc dân sự huỷ hôn trái pháp luật
giữa bà đối với ông Nguyễn C, địa chỉ cư trú tại: Số 9/6V ấp Chánh 2, xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 42, quyển số 01/2011 do Uỷ ban nhân dân xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 16/5/2011.
Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, và điểm g
khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ pháp luật là “Yêu cầu việc huỷ hôn trái pháp luật và công nhận quan hệ hôn nhân”, thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Uỷ ban nhân dân xã Tân Xuân,
huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh có đơn đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt; Căn cứ khoản 2 và 3 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành mở phiên họp giải quyết việc dân sự vắng mặt đương sự trên.
[3] Kèm theo Đơn yêu cầu, bà Trần Thị Kim L cung cấp Bản sao Giấy
chứng nhận kết hôn số 87, quyển số 01/2005 do Uỷ ban nhân dân thị trấn Mỏ Cày, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre ngày 21/9/2005 cấp cho ông Nguyễn C và bà Hồ Thị Hiếu (được sao lục ngày 09/12/2014 Uỷ ban nhân dân thị trấn Mỏ Cày, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre và Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số 521/2015/QĐST-HNGĐ ngày 18/6/2015 của Toà án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh giữa ông Nguyễn C và bà Hồ Thị Hiếu. Đồng thời, bà Trần Thị Kim L cung cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 42, quyển số 01/2011 do Uỷ ban nhân dân xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 16/5/2011 cho ông Nguyễn C và bà Trần Thị Kim L. Theo đó, khi ông Nguyễn C và bà Trần Thị Kim L đăng ký kết
hôn thì ông Nguyễn C vẫn còn tồn tại hôn nhân hợp pháp với bà Hồ Thị Hiếu,
sinh năm 1972, thường trú tại: 12B khu phố 7, thị trấn Mỏ Cày, huyện Mỏ Cày
Nam, tỉnh Bến Tre.
[4] Về yêu cầu huỷ kết hôn trái pháp luật:
[5] Tại khoản 6 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Kết hôn trái
pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm
quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định
tại Điều 8 của Luật này”; và điểm c khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình
quy định hành vi cấm: “Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung
sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chồng mà kết hôn hoặc
chung sống như vợ, chồng với người đang có chồng, có vợ”.
[6] Như vậy, việc kết hôn giữa ông Nguyễn C và bà Trần Thị Kim L theo
Giấy chứng nhận kết hôn số 42, quyển số 01/2011 do Uỷ ban nhân dân xã Tân
Xuân, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 16/5/2011 là kết hôn
trái pháp luật theo quy định tại khoản 6 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình do vi
phạm điểm c khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình; Do đó, bà Trần Thị
Kim L yêu cầu huỷ hôn trái pháp luật giữa ông Nguyễn C và bà trần Thị Kim L
theo Giấy chứng nhận kết hôn số 42, quyển số 01/2011, ngày 16/5/2011 do Uỷ
ban nhân dân xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh cấp từ
16/5/2011 đến 18/6/2015 là có cơ sở chấp nhận.
[7] Về yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân:
[8] Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các
đương sự số 521/2015/QĐST-HNGĐ ngày 18/6/2015 của Toà án nhân dân
huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh công nhận ông Nguyễn C và bà Hồ
Thị Hiếu thuận tình ly hôn.
[9] Tại khoản 2 Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “ Trong
trường hợp tại thời điểm Toà án giải quyết yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp
luật mà cả hai bên kết hôn đã đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8
của Luật này và hai bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Toà án công
nhận quan hệ hôn nhân đó. Trong trường hợp này, quan hệ hôn nhân được xác
lập từ thời điểm các bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này”
[10] Tại thời điểm Tòa án nhân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh
giải quyết yêu cầu huỷ kết hôn trái pháp luật thì hôn nhân giữa ông Nguyễn C và
bà Hồ Thị Hiếu đã chấm dứt. Đồng thời, bà Trần Thị Kim L và ông Nguyễn C
đều xác nhận đang chung sống hạnh phúc, hoà thuận và đều có yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân kể từ thời điểm 19/6/2015. Vì vậy, cần công nhận quan hệ hôn nhân của Trần Thị Kim L và ông Nguyễn Cầu kể từ thời điểm đủ các điều kiện kết hôn, tức là kể từ ngày 19/6/2015 theo quy định tại Điều 8, khoản 2 Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình.
[11] Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ
Chí Minh đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Kim L là phù hợp với nhận định nêu trên.
[12] Về lệ phí dân sự sơ thẩm:
Người yêu cầu bà Trần Thị Kim L được miễn lệ phí dân sự sơ thẩm theo
quy định tại Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
[13] Về quyền kháng cáo:
Tại phiên họp, người yêu cầu bà Trần Thị Kim L và người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn C có mặt; Uỷ ban nhân dân xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh vắng mặt có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 371 và 372 Bộ luật tố tụng dân sự;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ k khoản 1 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, và điểm g khoản 2 Điều
39, các Điều 149, 361, 367, 369, 370, 371 và 372 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ khoản 6 Điều 3, điểm c khoản c Điều 5, Điều 8, điểm a khoản 2
Điều 10 và Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc “Yêu cầu huỷ việc kết
hôn trái pháp luật và công nhận quan hệ hôn nhân” của bà Trần Thị Kim L:
- Huỷ việc kết hôn trái pháp luật giữa bà Trần Thị Kim L và ông Nguyễn
C kể từ ngày 16/5/2011 đến 18/6/2015.
- Chấp nhận quan hệ vợ chồng bà Trần Thị Kim L và ông Nguyễn C kể
từ ngày 19/6/2015.
2. Lệ phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị Kim L được miễn.
3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị:
3.1 Người yêu cầu bà Trần Thị Kim L và người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan ông Nguyễn C có quyền kháng cáo quyết định này kể từ ngày Toà án
ra quyết định.
3.2 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Uỷ ban nhân dân xã Tân
Xuân, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng cáo quyết
định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc ngày
quyết định được niêm yết theo quy định.
3.3 Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong
thời hạn 10 ngày, Viện Kiểm sát cấp trên có quyền kháng nghị trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn; - Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn; - Uỷ ban nhân dân xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh; - Đương sự; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Phạm Thị Lệ Hà |