vanban.org

Quyết định 65/2022/QĐCNKQHG — Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

TAND huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 28/07/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải 12 tháng 7 năm 2022, cụ thể như sau:

* Quá trình phát sinh nghĩa vụ trả tiền: anh Trần Văn T và bà Hà Thị P thống nhất: Năm 2021 bà P có thỏa thuận bán cho anh T 30 ha đất lâm nghiệp tại thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa với giá là 600.000.000 đồng. Ngày 09/4/2021 anh T có chuyển cho bà P tiền đặt cọc trước là 100.000.000 đồng; bà … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Vụ án DS: Trần Văn P - Hà Thị P"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải 12 tháng 7 năm 2022, cụ thể như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 32 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 34 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NHƯ THANH
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 65/2022/QĐCNKQHGNhư Thanh, ngày 28 tháng 7 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH TẠI TÒA ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ THANH, TỈNH THANH HÓA

Thẩm phán ra quyết định: Ông Lê Đình Huy Căn cứ vào Điều 32; 33; 34 và Điều 35 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Căn cứ vào các 117; 351; 357; 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự; Căn cứ yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải tại của anh Trần Văn T và bà Hà Thị P. Sau khi nghiên cứu: Đơn khởi kiện ngày 27 tháng 4 năm 2022 về việc anh Trần Văn T đề nghị Tòa án buộc bà Hà Thị P phải trả lại cho anh T số tiền đã nhận đặt cọc mua đất là 100.000.000 đồng.

- Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 12 tháng 7 năm 2022 về sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải sau đây: Người khởi kiện: anh Trần Văn T - Sinh năm 1984 Địa chỉ: khu phố C, thị trấn R, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa. Người bị kiện: bà Hà Thị P - Sinh năm 1969 Địa chỉ: khu phố 4, thị trấn B, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa.

- Các tài liệu kèm theo Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải do Hòa giải viên chuyển sang Tòa án và các tài liệu do Tòa án thu thập được theo quy định tại khoản 2 Điều 32 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Việc thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 12 tháng 7 năm 2022 có đủ các điều kiện quy định tại Điều 33 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải 12 tháng 7 năm 2022, cụ thể như sau:

* Quá trình phát sinh nghĩa vụ trả tiền: anh Trần Văn T và bà Hà Thị P thống nhất: Năm 2021 bà P có thỏa thuận bán cho anh T 30 ha đất lâm nghiệp tại thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa với giá là 600.000.000 đồng. Ngày 09/4/2021 anh T có chuyển cho bà P tiền đặt cọc trước là 100.000.000 đồng; bà P có trách nhiệm làm thủ tục đăng ký chuyển quyền sử dụng đất cho anh T. Hẹn đến hết ngày 09/5/2021, bà P phải thực hiện xong thủ tục và có giấy chứng nhận đăng ký quyền sử dụng đất mang tên anh Trần Văn T, anh T sẽ thanh toán toàn bộ số tiền còn lại cho bà P. Việc mua bán đất được lập thành văn bản nhưng không công chứng, chứng thực theo quy định; khi đặt cọc bà P có viết giấy nhận tiền đặt cọc tiền đất là 120.000.000 đồng nhưng thực tế anh T mới chuyển cho bà P số tiền 100.000.000 đồng, còn thiếu 20.000.000 đồng theo thỏa thuận đặt cọc. Đến hết tháng 5/2021, bà P không thực hiện được thủ tục đăng ký chuyển quyền sử dụng đất cho anh T nên hai bên thống nhất chấm dứt hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Theo đó, bà P không tiếp tục thực hiện đăng ký chuyển quyền sử dụng đất cho anh T; đồng thời bà P có trách nhiệm trả lại số tiền đã nhận đặt cọc 100.000.000 đồng. Đây là giao dịch cá nhân của bà P và anh T nên bà P phải chịu trách nhiệm cá nhân trước anh T về việc hoản trả tiền đặt cọc.

* Quá trình trả tiền: anh Trần Văn T và bà Hà Thị P thống nhất: Đến nay bà P chưa trả được cho anh T số tiền đã nhận đặt cọc.

* Nghĩa vụ trả nợ: Anh Trần Văn T và bà Hà Thị P thống nhất: Bà P có trách nhiệm trả cho anh T tổng số tiền còn nợ là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng chẵn).

* Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ thi hành án: Anh Trần Văn T và bà Hà Thị P thống nhất: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất là 10%/năm.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự. 2. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ký, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

Cỡ chữ