vanban.org

Quyết định 65/2018/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND TP. Qui Nhơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 02/04/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị T yêu cầu tuyên bố anh Nguyễn Văn B là đã chết.

Tuyên bố: Anh Nguyễn Văn B sinh năm 1975, nơi cư trú cuối cùng: 123C đường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định là đã chết. Xác định ngày anh Nguyễn Văn B chết là ngày 23.4.2016. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị T yêu cầu tuyên bố anh Nguyễn Văn B là đã chết.
  • Căn cứ chính? Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 391 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 392 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ Q
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số : 65/2018/QĐDS-ST
Ngày: 02/4/2018
“V/v: Tuyên bố một người là đã chết”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Q, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Với thành phần giải quyết việc dân sự:

- Chủ tọa phiên họp: Bà Khổng Lan Hương – Thẩm phán

- Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nương – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định tham gia phiên họp: Bà Trần Thị Thúy Vinh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 02 tháng 4 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Q mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 117/2017/TLST –VDS ngày 24 tháng 10 năm 2017 về yêu cầu “Tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp số 23/2018/QĐPH – VDS ngày 23 tháng 3 năm 2018.

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Chị Nguyễn Thị T – sinh năm: 1977

Địa chỉ: Số 123C đường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Văn B – sinh năm: 1975

Nơi cư trú cuối cùng: Số 123C đường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định.

- Bà Trần Thị Th – sinh năm: 1944

Địa chỉ: Thôn M, xã T, huyện P, tỉnh Bình Định.

- Cháu Nguyễn Thị Tường V – sinh năm: 2002

- Cháu Nguyễn Tường P – sinh năm: 2004

- Cháu Nguyễn Tường T – sinh năm: 2006

Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Nguyễn Thị T – sinh năm: 1977

Cùng địa chỉ: Số 123C đường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định.

Người làm chứng:

- Anh Nguyễn Văn T – sinh năm: 1971

Địa chỉ: 02 đường P, thành phố Q, tỉnh Bình Định.

- Anh Lê Cao C – sinh năm: 1982

Địa chỉ: Tổ 53, KV 6, phường Q, Thành phố Q, tỉnh Bình Định.

- Anh Đỗ Thanh S – sinh năm: 1978

Địa chỉ: Thôn V, xã T, huyện P, tỉnh Bình Định.

(Chị T, bà Th có mặt, cháu V, cháu P, cháu T vắng mặt, anh T, anh C, anh S có đơn xin giải quyết vắng mặt).

3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:

Theo đơn yêu cầu ngày 05.9.2017 và trong quá trình giải quyết việc dân sự chị Nguyễn Thị T trình bày: vào ngày 23.4.2014, anh B là chủ tàu kiêm thuyền trưởng đi đánh bắt cá tại vùng biển QN, khi đến tọa độ 15 độ 34 phút vĩ bắc, 110 độ 14 phút kinh đông để đánh bắt cá, anh B đã bị dây tời đánh trúng người rớt xuống biển, gia đình đã tìm kiếm nhiều ngày nhưng không thấy xác anh B. Nay chị T yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Nguyễn Văn B là đã chết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Th trình bày: anh B là con trai bà, từ ngày anh B bị tai nạn rớt xuống biển (ngày 23.4.2014) đến nay, anh B không về nhà, gia đình cũng đã tìm kiếm trong thời gian dài nhưng không thấy xác anh B. Bà thống nhất với ý kiến của chị T yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Nguyễn Văn B là đã chết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cháu Nguyễn Thị Tường V, Nguyễn Tường P, Nguyễn Tường T thống nhất lời trình bày của chị T. Từ khi anh B bị tai nạn rớt xuống biển vào ngày 23.4.2014 đến nay anh B không về nhà và cũng không liên lạc với gia đình. Các cháu cũng thống nhất với yêu cầu của chị T.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự kể từ khi thụ lý việc dân sự cho đến trước thời điểm mở phiên họp. Tại phiên họp, Thẩm phán và thư ký phiên họp tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, người tham gia phiên họp đã chấp hành đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về nội dung: đề nghị căn cứ vào Điều 391, 392, 393 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm c khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị T về việc yêu cầu tuyên bố anh Nguyễn Văn B là đã chết. Chị T phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

- 2 -

NHẬN ĐỊNH:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Q nhận định:

Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn B kết hôn vào ngày 30.7.2001 tại UBND xã M, huyện P, tỉnh Bình Định. Qúa trình chung sống vợ chồng có 03 con chung là Nguyễn Thị Tường V, Nguyễn Tường P, Nguyễn Tường T. Vào ngày 23.4.2014, anh B là chủ tàu kiêm thuyền trưởng đi đánh bắt cá tại vùng biển QN, khi đến tọa độ 15 độ 34 phút vĩ bắc, 110 độ 14 phút kinh đông để đánh bắt cá, anh B bị dây tời đánh trúng người rớt xuống biển, gia đình đã tìm kiếm nhiều ngày nhưng không thấy xác anh B. Nay chị T yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Nguyễn Văn B là đã chết.

Xét thấy: anh B bị tai nạn rớt xuống biển từ ngày 23.4.2014 đến nay đã trên 02 năm, mặc dù chị T đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng vẫn không có tin tức xác thực là anh B còn sống. Tại biên bản xác minh ngày 22.3.2018 ông Lê Văn H đồn trưởng đồn biên phòng M cung cấp: vào ngày 23.4.2014 anh Nguyễn Văn B có đi đánh bắt cá tại vùng biển QN thì bị tai nạn rớt xuống biển từ đó đến nay không tìm thấy xác. Anh Lê Cao C, Đỗ Thanh S là những người đi cùng thuyền với anh B cũng xác nhận là anh B bị dây tời đánh rớt xuống biển từ ngày 23.4.2014 đến nay vẫn không tìm thấy xác. Ngày 09.11.2017, Tòa án nhân dân thành phố Q đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố đã chết đối với anh Nguyễn Văn B. Chị T đã thực hiện xong việc thông báo tìm kiếm trên các phương tiện thông tin đại chúng (đăng báo Thanh Niên 3 kỳ liên tiếp và phát trên Trung tâm truyền hình Việt Nam tại thành phố Đà Nẵng trong 03 ngày liên tiếp). Hết thời hạn theo quy định tại Điều 392 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức gì của anh B. Nay chị T yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Nguyễn Văn B là đã chết là phù hợp với điểm c khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự và phù hợp với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nên yêu cầu của chị T được chấp nhận.

Lệ phí giải quyết việc dân sự: Căn cứ vào Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 391, 392, 393 của Bộ luật tố tụng Dân sự; điểm c khoản 1 Điều 71 của Bộ luật Dân sự, Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

- 3 -

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị T yêu cầu tuyên bố anh Nguyễn Văn B là đã chết.

2. Tuyên bố: Anh Nguyễn Văn B sinh năm 1975, nơi cư trú cuối cùng: 123C đường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định là đã chết.

Xác định ngày anh Nguyễn Văn B chết là ngày 23.4.2016.

4. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu số 0005408 ngày 23.10.2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Q. Chị T đã nộp xong.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ