- Tranh chấp gì? án hành chính — "Yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính thụ lý số 02/2017/TLST-HC ngày 03/01/2017 về việc "Yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất", giữa:
- Căn cứ chính? Điều 143 Luật tố tụng hành chính; Điều 144 Luật tố tụng hành chính; Điều 38 Luật tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 65/2017/QĐST-HC | Quảng Nam, ngày 25 tháng 8 năm 2017 |
QUYẾT ĐỊNH
ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
Căn cứ vào khoản 5 Điều 38, Điều 143 và Điều 144 của Luật tố tụng hành chính;
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án hành chính sơ thẩm;
Xét thấy: Ngày 15/11/2016, TAND tỉnh Quảng Nam có Thông báo số 199/TB-TA yêu cầu bà Trương Thị Lệ H xác định rõ thời điểm biết UBND huyện Q cấp Giấy CNQSDĐ cho ông Trương Thanh D; mặc dù tại đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện gửi TAND tỉnh Quảng Nam ngày 21/12/2016 bà H trình bày “Vào thời gian đầu năm 2016, khi TAND huyện Q triệu tập tôi đến Tòa và thông báo cho tôi biết bà Nguyễn Thị T có đơn khởi kiện tôi để đòi 175m2 đất tại thửa đất số 125b, tờ bản đồ số 7 thì tôi mới biết được anh D được cấp Giấy chứng nhận và sau đó chỉnh lý sang chị Nguyễn Thị T” nhưng tại biên bản hòa giải đơn kiến nghị của bà Trương Thị Lệ H và ông Trương Trường D do UBND xã H tổ chức vào ngày 31/10/2014, phần cuối biên bản bà H ký và ghi thêm nội dung “Tôi không thống nhất vì đất đã chồng chéo”; ngày 15/7/2015, UBND xã H lập biên bản hòa giải giải quyết đơn xin kiến nghị của hộ bà Nguyễn Thị T, tại cuộc họp ông Trần Công T là cán bộ địa chính xây dựng UBND xã H phát biểu ý kiến “Nguồn gốc đất của ông D được Nhà nước cấp Giấy CNQSDĐ theo Nghị định 64 sau đó ông chuyển nhượng cho ông C, phần còn lại 549m2 sau khi ông D chết thì thửa đất trên được bà T thừa kế”; bà H có tham gia với tư cách bị đơn và ký vào biên bản. Như vậy, bà H đã biết hộ ông Trương Thanh D đã được cấp Giấy CNQSDĐ từ cuộc họp hòa giải ngày 15/7/2015 chứ không phải là vào thời gian đầu năm 2016 như bà H trình bày. Vì vậy, ngày 14/11/2016 bà Trương Thị Lệ H mới nộp đơn khởi kiện yêu cầu hủy Giấy CNQSDĐ số K959050 ngày 09-12-1997 của UBND huyện Q cấp cho hộ ông Trương Văn D là đã hết thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116, điểm g khoản 1 Điều 143 Luật tố tụng hành chính.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính thụ lý số 02/2017/TLST-HC ngày 03/01/2017 về việc "Yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất", giữa:
- Người khởi kiện: Bà Trương Thị Lệ H, sinh năm 1970.
Địa chỉ: Xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Nam.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn A, sinh năm 1976.
Địa chỉ: Văn phòng luật sư N, đường C, thị trấn N, huyện N, tỉnh Quảng Nam.
- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện Q, tỉnh Quảng Nam.
Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Đại N – Chức vụ: Chủ tịch.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Văn N – Chức vụ: Phó Chủ tịch.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1970;
+ Bà Trương Thị Ái L, sinh năm 1958;
+ Bà Trương Thị Ngọc A, sinh năm 1963;
+ Bà Trương Thị Phương D, sinh năm 1968;
+ Ông Trương Thanh H, sinh năm 1976;
Cùng địa chỉ: Xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Nam.
+ Ông Trương Thanh C, sinh năm 1973 (đã chết);
Địa chỉ: Xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Nam.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Trương Thanh C: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1969; trú tại: Xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam
+ Ông Trần Viết H, sinh năm 1985;
+ Bà Phùng Thị T, sinh năm 1986;
Cùng địa chỉ: Xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Nam.
+ Bà Trương Thị V, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Thôn D, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng.
2. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án: Bà Trương Thị Lệ H không có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án, nếu việc khởi kiện này không có gì khác với vụ án đã bị đình chỉ về người khởi kiện, người bị kiện và quan hệ pháp luật có tranh chấp.
Hoàn trả lại cho bà Trương Thị Lệ H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 200.000 (Hai trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 000387 ngày 03/01/2016 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Nam theo quy định tại khoản 3 Điều 18 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
3. Đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định này hoặc kể từ ngày Quyết định này được niêm yết công khai theo quy định của Luật tố tụng hành chính.
| Nơi nhận: - Các cơ quan THTT; - Những người TGTT; - Lưu. | THẨM PHÁN (Đã ký và đóng dấu) Đinh Văn Long |