- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con chung"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Cao Thị Đ và anh Nguyễn Thanh T.
- Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 64 /2023/QĐST-HNGĐ Ngày: 07 - 8 - 2023. |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
(Về việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
và thỏa thuận việc nuôi con khi ly hôn)
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
- Chủ tọa phiên họp: Ông Mạc Minh Quang - Thẩm phán
- Thư ký phiên họp: Bà Lương Thị Ngọc Quỳnh - Thư ký TAND tỉnh Hải Dương.
- Đại diện VKSND tỉnh Hải Dương tham gia phiên họp: Ông Phạm Văn Quyết - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 343/2023/TLST-HNGĐ ngày 19/7/2023 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận việc nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định mở phiên họp số 300/2023/QĐST-HNGĐ ngày 27/7/2023, giữa:
* Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
- Chị Cao Thị Đ - sinh năm 1983, địa chỉ: Khu 15, phường N C, thành phố H D, tỉnh Hải Dương.
- Anh Nguyễn Thanh T - sinh năm 1972, địa chỉ: Khu 15, phường N C, thành phố H D, tỉnh Hải Dương. Nơi cư trú hiện nay: Ba Lan.
Chị Đ và anh T đều đề nghị giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:
- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai của chị Cao Thị Đ và anh Nguyễn Thanh T và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Cao Thị Đ và anh Nguyễn Thanh T tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND phường N C, thành phố H D, tỉnh Hải Dương vào ngày 10/11/2003. Sau ngày cưới, vợ chồng tổ chức cuộc sống vui vẻ, hòa thuận được 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Đến năm 2018 thì anh T đi xuất khẩu lao động tại Ba Lan đến nay chưa về nước. Do có mâu thuẫn từ trước nên mỗi lần vợ chồng gọi điện thoại cho nhau thì đều xảy ra tranh cãi, bất đồng quan điểm, không có sự tin tưởng về nhau, định hướng tương lai khác nhau nên dần dần tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách, lạnh nhạt. Bản thân anh chị cũng đã tìm mọi biện pháp để cải thiện quan hệ hôn nhân, gia đình hai bên nhiều lần hòa giải nhưng đều không có kết quả. Đến nay chị Đ và anh T đều xác định vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau, cuộc hôn nhân của anh chị không có hạnh phúc, nên đều làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn để sớm ổn định cuộc sống riêng.
Về con chung: Anh chị đều xác định vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Đức Hạnh Kh, sinh ngày 17/3/2004 và Nguyễn Đức Hùng Kh1, sinh ngày 06/7/2006. Hiện cháu Khuê đã trên 18 tuổi, trưởng thành nên anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi dưỡng. Đối với cháu Nguyễn Đức Hùng Kh1, anh chị đã thống nhất thỏa thuận giao cho chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn, chị Đ tự nguyện không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con.
Về tài sản, vay nợ: Chị Đ và anh T đều không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu ý kiến: Xác định những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ Điều 55, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị TAND tỉnh Hải Dương công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Cao Thị Đ và anh Nguyễn Thanh T. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của hai bên giao con chung Nguyễn Đức Hùng Kh1, sinh ngày 06/7/2006 cho chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn, chấp nhận sự tự nguyện của chị Đ không yêu cầu anh T cấp dưỡng tiền nuôi cháu Khương. Về lệ phí: Chấp nhận sự tự nguyện của chị Cao Thị Đ chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc hôn nhân; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương nhận định:
. Về tố tụng: Chị Cao Thị Đ và anh Nguyễn Thanh T đều có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn; anh T là người Việt Nam hiện đang sinh sống, làm việc tại nước ngoài nên căn cứ khoản 2 Điều 29, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.
Đơn xin ly hôn, giấy ủy quyền, đơn xin giải quyết vắng mặt và bản tự khai của anh Nguyễn Thanh T đều được Đại sứ quán Việt Nam tại Cộng hòa Ba Lan xác nhận. Do vậy có căn cứ công nhận các văn bản trên là hợp pháp.
Chị Đ, anh T đều đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc dân sự vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Cao Thị Đ và anh Nguyễn Thanh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Ngọc Châu, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương ngày 10/11/2003. Đây là hôn nhân hợp pháp.
Sau ngày cưới, vợ chồng tổ chức cuộc sống vui vẻ, hòa thuận được 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Đến năm 2018 thì anh T đi xuất khẩu lao động tại Ba Lan, còn chị Đ ở nhà lao động và nuôi con. Từ đó, mỗi lần anh chị gọi điện thoại cho nhau thì đều đều xảy ra tranh cãi, quan điểm bất đồng, không có sự tin tưởng về nhau nên tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách, lạnh nhạt. Bản thân anh chị cũng đã tìm mọi biện pháp để cải thiện quan hệ hôn nhân và gia đình hai bên nhiều lần hòa giải nhưng đều không có kết quả, hiện tại anh T không về Việt Nam sinh sống cùng chị Đ. Đến nay anh chị đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc, đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn để sớm ổn định cuộc sống riêng. Xét mâu thuẫn của anh chị đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cần công nhận thuận tình ly hôn của anh chị là phù hợp theo quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình.
. Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Nguyễn Đức Hạnh Kh, sinh ngày 17/3/2004 và cháu Nguyễn Đức Hùng Kh1, sinh ngày 06/7/2006. Đối với cháu Kh hiện đã trên 18 tuổi, trưởng thành nên không xem xét việc nuôi dưỡng. Đối với cháu Kh1 hai bên thống nhất thỏa thuận giao cho chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi, chị Đ tự nguyện không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung, cháu Kh1 cũng có nguyện vọng được ở với mẹ nên việc thỏa thuận nuôi dưỡng cháu Kh1 của hai bên là hoàn toàn tự nguyện, đảm bảo quyền lợi của con, cần chấp nhận sự thỏa thuận của các bên theo quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
. Về tài sản: Chị Đ và anh T không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
. Về lệ phí ly hôn sơ thẩm: Chấp nhận sự tự nguyện của chị Đ chịu toàn bộ lệ phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 55, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 29, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, Điều 149, Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Cao Thị Đ và anh Nguyễn Thanh T.
2. Về con chung: Con chung Nguyễn Đức Hạnh Kh, sinh ngày 17/3/2004, hiện đã trên 18 tuổi, trưởng thành nên Tòa án không giải quyết việc nuôi dưỡng.
Công nhận sự thỏa thuận của hai bên giao con chung Nguyễn Đức Hùng Kh1, sinh ngày 06/7/2006 cho chị Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Đ không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được ngăn cản.
3. Về tài sản, vay nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về lệ phí: Chị Cao Thị Đ tự nguyện chịu cả 300.000đ lệ phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được đối trừ số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ theo biên lai thu số AA/2022/0002142 ngày 19/7/2023 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị Đ đã nộp đủ lệ phí ly hôn.
5. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Cục THADS tỉnh Hải Dương; - UBND phường N C, thành phố H D, tỉnh Hải Dương (để ghi vào sổ hộ tịch); - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Mạc Minh Quang |