- Tranh chấp gì? "Nguyễn Thanh T"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của những người khởi kiện là bà Nguyễn Thanh T, ông Nguyễn Đăng T1 và ông Nguyễn Đăng T2, giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 18/2017/QĐST-HC ngày 18 tháng 8 năm 2017 của Tòa án nhân dân H*.
- Căn cứ chính? Điều 116 Luật tố tụng hành chính; Điều 143 Luật tố tụng hành chính; Điều 144 Luật tố tụng hành chính
| TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 64/2018/QĐPT-HC | Hà Nội, ngày 08 tháng 3 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO
ĐỐI VỚI QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông NVC;
Các thẩm phán: Ông BTL;
Ông VHS.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp: Ông ĐNC, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tham gia phiên họp: Ông ĐVS, Kiểm sát viên.
Tại quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 18/2017/QĐST-HC ngày 18 tháng 8 năm 2017, Tòa án nhân dân H* đã căn cứ khoản 5 Điều 38; điểm a khoản 2 Điều 116; điểm g khoản 1 Điều 143; Điều 144 Luật tố tụng hành chính, quyết định:
Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm thụ lý số 56/2017/TLST-HC ngày 12/01/2017 về việc khiếu kiện Quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở ngày 21/5/2007 của Ủy ban nhân dân quận Hkm, H*, vụ án có các đương sự sau:
* Người khởi kiện:
1. Nguyễn Thanh T, sinh năm 1956;
Nơi cư trú: Số 66 Đ, quận Hkm, H*.
2. Nguyễn Đăng T1, sinh năm 1958;
Nơi cư trú: Số 55 S, quận Hkm, H*.
3. Nguyễn Đăng T2, sinh năm 1958;
Nơi cư trú: Số 55 S, quận Hkm, H*.
4. Nguyễn Thanh Q, sinh năm 1962;
Nơi cư trú: Số 68 C, quận Hkm, H*.
* Người bị kiện: Ủy ban nhân dân quận Hkm, H*.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Tuấn L - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận Hkm, H*.
(Văn bản ủy quyền ngày 19/4/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận Hkm, H*).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Công ty TNHH MTV Quản lý và Phát triển nhà H*; Trụ sở: Số 221 Tnh, quận C1, H*.
- Bà Nguyễn Thị Thanh T3, sinh năm 1961; Nơi cư trú: Số 66 Đ, quận Hkm, H*.
- Bà Nguyễn Thanh H, sinh năm 1952; Nơi cư trú: Số 45A P, quận Hkm, H*.
Ngoài ra quyết định đình chỉ còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo cho các đương sự.
Tại đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thanh T, ông Nguyễn Đăng T1 và ông Nguyễn Đăng T2 kháng cáo đối với quyết định đình chỉ xét xử vụ án nêu trên với nội dung đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội hủy bỏ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 18/2017/QĐST-HC ngày 18 tháng 8 năm 2017 của Tòa án nhân dân H*.
XÉT THẤY:
Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ xét xử vụ án với lý do: Những người khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở ngày 21/5/2007 của Ủy ban nhân dân quận Hkm đối với bà Nguyễn Thị V và bà Nguyễn Thị Thanh T3 tại địa chỉ 66 Đ, phường Hbk, quận Hkm, H* khi đã hết thời hiệu khởi kiện.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án và nội dung kháng cáo của bà T, ông T1 và ông T2, Hội đồng phiên họp phúc thẩm nhận thấy:
Ngày 21/5/2007, Ủy ban nhân dân quận Hkm, H* đã Quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đối với diện tích 34,8m2 đất tại địa chỉ 66 Đ, phường Hbk, quận Hkm, H* cho bà Nguyễn Thị V và bà Nguyễn Thị Thanh T3.
Ngày 05/8/2016, bà Nguyễn Thanh T, ông Nguyễn Đăng T1, ông Nguyễn Đăng T2 có đơn khởi kiện đối với quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở nêu trên tại Tòa án nhân dân H*.
Bà T, ông T1 và ông T2 đều khai nhận rằng: Ngày 26/4/2016, Ủy ban nhân dân phường Hbk đã tiến hành hòa giải giữa những người khởi kiện và bà Nguyễn Thị Thanh T3. Tại phiên hòa giải này, bà T3 xuất trình giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở tại 66 Đ, phường Hbk, quận Hkm, H*, từ đó những người khởi kiện mới biết được quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà của Ủy ban nhân dân quận Hkm cho bà T3 và bà V. Ngày 05/8/2016, các ông, bà có đơn khởi kiện đối với quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở nêu trên tại Tòa án nhân dân H* là phù hợp với thời hiệu khởi kiện quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính.
Tuy nhiên, tại đơn khởi kiện ngày 05/8/2016 mà những người khởi kiện là bà Nguyễn Thanh T, ông Nguyễn Đăng T1, ông Nguyễn Đăng T2 và bà Nguyễn Thanh Q cùng ký tên có nội dung: “… đến 49 ngày của cụ V bỗng nhiên Nguyễn Thị Thanh T3 tuyên bố nhà này của T3 và đặt trên bàn thờ cụ V bản pho to sổ đỏ…”.
Cụ V đã chết vào tháng 01/2013 nên theo nội dung đơn khởi kiện của bà T, ông T1, ông T2 và bà Q đã thể hiện rõ các ông, bà đã biết việc Ủy ban nhân dân quận Hkm cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở cho bà T3 kể từ năm 2013. Vì vậy, đến ngày 05/8/2016, các ông, bà mới có đơn khởi kiện đối với quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở của Ủy ban nhân dân quận Hkm là đã hết thời hiệu khởi kiện theo quy định của pháp luật.
Từ những phân tích trên, Hội đồng phiên họp phúc thẩm xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính là đúng pháp luật, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thanh T, ông Nguyễn Đăng T1 và ông Nguyễn Đăng T2.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 243 Luật tố tụng hành chính năm 2015,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận kháng cáo của những người khởi kiện là bà Nguyễn Thanh T, ông Nguyễn Đăng T1 và ông Nguyễn Đăng T2, giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 18/2017/QĐST-HC ngày 18 tháng 8 năm 2017 của Tòa án nhân dân H*.
2. Án phí hành chính phúc thẩm:
Bà Nguyễn Thanh T, ông Nguyễn Đăng T1 và ông Nguyễn Đăng T2 mỗi người phải nộp 300.000 đồng tiền án phí phúc thẩm, được đối trừ với số tiền tạm ứng án phí mà ông Nguyễn Đăng T1 đã nộp tại Cục thi hành án dân sự H* theo các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AB/2015/0009534; số AB/2015/0009535; số AB/2015/0009536 ngày 13 tháng 9 năm 2017. Bà Nguyễn Thanh T, ông Nguyễn Đăng T1 và ông Nguyễn Đăng T2 đã nộp xong tiền án phí phúc thẩm.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - VKSNDCC tại Hà Nội; - TAND H*; - Cục THADS H*; - Các đương sự (theo địa chỉ); - Lưu: HS, VT. | TM HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP NVC |