vanban.org

Quyết định 64/2017/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa:

Nguyên đơn: Anh Hà Vũ N – Sinh năm 1980 Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Ch – Sinh năm 1982 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "anh Hà Vũ N xin ly hôn với chị Nguyễn Thị Ch và yêu cầu nuôi con nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ ĐỒN
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 64/2017/QĐST-HNGĐChợ Đồn, ngày 27 tháng 11 năm 2017

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số: 77/2017/TLST/HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2017, giữa:

Nguyên đơn: Anh Hà Vũ N – Sinh năm 1980

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Ch – Sinh năm 1982

Cùng trú tại: Thôn PL, xã Đ , huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.

Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 55, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 17 tháng 11 năm 2017.

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 17 tháng 11 năm 2017 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa:

Nguyên đơn: Anh Hà Vũ N – Sinh năm 1980

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Ch – Sinh năm 1982

Cùng trú tại: Thôn PL, xã Đ, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.

2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Hà Vũ N và chị Nguyễn Thị Ch nhất trí, thuận tình ly hôn.

- Về con chung: Anh N và chị Ch có 02 con chung là Hà Vũ T, sinh ngày 11/12/2002 và còn Hà Diệu M, sinh ngày 28/11/2009, hiện nay cháu Hà Vũ T đang ở với anh N và cháu Hà Diệu M đang ở với chị Ch. Khi ly hôn hai bên thống nhất thỏa thuận anh N được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con Hà Vũ T, sinh ngày 11/12/2002 đến khi con đủ 18 tuổi và chị Ch được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con Hà Diệu M, sinh ngày 28/11/2009 đến khi con đủ 18 tuổi và đúng theo nguyện vọng của các con.

Anh N và chị Ch có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định của pháp luật mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh N và chị Ch đều không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Hai bên thống nhất tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Anh N và chị Ch mỗi người chịu 75.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Ghi nhận việc Anh N tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm với số tiền là 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ mà anh Nhã đã nộp theo biên lai số 05900 ngày 15 tháng 11 năm 2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn. Anh N được hoàn lại 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Đồn.

Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ