vanban.org

Quyết định 63/2022/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Tẩn A L. Hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Tẩn A N và chị Vàng Thị P theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 28, quyển số 01, ngày 19/5/2011, của Ủy ban nhân dân xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu.

Công nhận quan hệ hôn nhân của anh Tẩn A N và chị Vàng Thị P kể từ thời điểm anh Tẩn A N đủ tuổi kết hôn là ngày 08/8/2012. Về lệ phí Tòa án: Người yêu cầu không phải nộp lệ phí giải quyết việc dân sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Ngan, Phuong"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Tẩn A L. Hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Tẩn A N và chị Vàng Thị P theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 28, quyển số 01, ngày 19/5/2011, của Ủy ban nhân dân xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu.
  • Căn cứ chính? Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP Hướng…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHONG THỔ
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 63/2022/QĐST-HNGĐPhong Thổ, ngày 15 tháng 7 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần giải quyết việc dân sự:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Đỗ Thị Hạnh.

Thư ký phiên họp: Bà Lù Thị Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên họp: Ông Đồng Xuân Tím - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 85/2022/TLST-HNGĐ, ngày 03 tháng 6 năm 2022, về việc yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật theo Quyết định mở phiên họp số: 58a/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 01 tháng 7 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Ông Tẩn A L, sinh năm: 1952, địa chỉ: Bản S, xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu, có đơn xin vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Ủy ban nhân dân xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T - Chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu, có đơn xin vắng mặt.

+ Anh Tẩn A N, sinh năm: 1993, địa chỉ: Bản S, xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu, có đơn xin vắng mặt.

+ Chị Vàng Thị P, sinh năm: 1991, địa chỉ: Bản S, xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu, có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và lời khai trong quá trình giải quyết vụ việc, người yêu cầu là ông Tẩn A L trình bày:

Ông Tẩn A L là bố đẻ của anh Tẩn A N. Anh Tẩn A N, sinh ngày 07/8/1993 và chị Vàng Thị P, sinh ngày 23/02/1991, kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu, ngày 19/5/2011. Khi đi đăng ký kết hôn, do biết mình chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn nên anh N đã cung cấp sổ hộ khẩu cũ của gia đình và khai anh sinh ngày 07/8/1988. Hiện nay, sổ hộ khẩu cũ của gia đình anh N đã bị thất lạc, không tìm thấy. Việc anh N và chị P đăng ký kết hôn ngày 19/5/2011, tại Ủy ban nhân dân xã B đã vi phạm về điều kiện kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 nên ông Tẩn A L yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Tẩn A N và chị Vàng Thị P theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 28, quyển số 01, ngày 19/5/2011, của Ủy ban nhân dân xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu.

Quá trình giải quyết việc dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân xã Bản Lang, người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Văn T, chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, đề nghị Tòa án giải quyết việc hủy kết hôn trái pháp luật giữa anh Tẩn A N và chị Vàng Thị P theo đúng quy định của pháp luật, ngoài ra không có yêu cầu gì khác.

Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai và đơn xin vắng mặt tại phiên họp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Tẩn A N và chị Vàng Thị P đều trình bày: Anh Tẩn A N sinh ngày 07/8/1993, chị Vàng Thị P sinh ngày 23/02/1991. Anh N và chị P kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 19/5/2011, tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu. Khi đi đăng ký kết hôn, anh N chưa đủ tuổi kết hôn đúng như lời khai của ông Tẩn A L. Từ khi kết hôn đến nay, anh N và chị P sống hạnh phúc với nhau, cả hai đều mong muốn tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân, xây dựng hạnh phúc gia đình nên anh N và chị P yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân kể từ khi anh N đủ tuổi kết hôn là ngày 08/8/2012, theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

Kết quả xác minh của Tòa án tại Ủy ban nhân dân xã Nậm Xe cho thấy anh Tẩn A N có ngày, tháng, năm sinh chính xác là ngày 07/8/1993, chị Vàng Thị P có ngày, tháng, năm sinh chính xác là ngày 23/02/1991. Tính đến ngày đăng ký kết hôn là ngày 19/5/2011, anh N mới được 17 tuổi 09 tháng 11 ngày. Khi làm thủ tục đăng ký kết hôn, Ủy ban nhân dân xã Bản Lang đã căn cứ vào lời khai, sổ hộ khẩu cũ của gia đình của anh N để làm thủ tục đăng ký kết hôn mà không yêu cầu cung cấp thêm giấy tờ tùy thân khác để xác định chính xác ngày, tháng, năm sinh của anh N nên dẫn đến sai xót như trên. Hiện nay, tại Ủy ban nhân dân xã Bản Lang chỉ có sổ theo dõi đăng ký kết hôn và tờ khai đăng ký kết hôn của anh N, chị P, ngoài ra, không còn lưu giữ tài liệu gì về việc đăng ký kết hôn cho anh N, chị P.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết việc dân sự, Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy đinh của pháp luật; người tham gia tố tụng thực hiện quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy đinh của pháp luật.

Về giải quyết việc dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; điểm a khoản 2 Điều 10, khoản 2 Điều 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm g khoản 2 Điều 39, các Điều 361, 362, 366, 367, 370, 371, 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, ngày 06/01/2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu của ông Tẩn A L, hủy kết hôn trái pháp luật giữa anh Tẩn A N và chị Vàng Thị P theo Giấy chứng nhận kết hôn số 28, ngày 01, ngày 19/5/2011, của Ủy ban nhân dân xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu. Chấp nhận đề nghị của anh Tẩn A N và chị Vàng Thị P, công nhận quan hệ hôn nhân của Tẩn A N và chị Vàng Thị P kể từ thời điểm anh N đủ điều kiện về độ tuổi kết hôn, tức là kể từ ngày 08/8/2012. Người yêu cầu thuộc trường hợp không phải nộp lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định theo quy định tại Điều 149 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBNTVH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tại phiên họp, Tòa án nhân huyện Phong Thổ nhận định:

Ông Tản A L là bố đẻ của anh Tẩn A N nên ông L có quyền yêu cầu Tòa án hủy kết hôn trái pháp luật giữa Tẩn A N và chị Vàng Thị P theo quy định tại khoản 2 Điều 10 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Việc đăng ký kết hôn giữa anh Tẩn A N và chị Vàng Thị P được thực hiện tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35, điểm g khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên họp, người yêu cầu, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt và đã có đơn xin vắng mặt nên Tòa án tiến hành mở phiên họp vắng mặt những người tham gia tố tụng theo quy định tại các Điều 238, 361; 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về yêu cầu giải quyết việc dân sự của người yêu cầu là ông Tẩn A L: Anh Tẩn A N, sinh ngày 07/8/1993 và chị Vàng Thị P, sinh ngày 23/02/1991 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nậm Xe, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu ngày 19/5/2011. Tại thời điểm đăng ký kết hôn, anh N mới được 17 tuổi 09 tháng 11 ngày nên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 là nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên. Vì vậy, việc ông Tẩn A L yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh N và chị N theo giấy chứng nhận kết hôn số 28, quyển số 01, ngày 19/5/2011, của Ủy ban nhân dân xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu là có căn cứ và cần được chấp nhận.

Về yêu cầu của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Tẩn A N và chị Vàng Thị P: Việc đăng ký kết hôn giữa anh N và chị P vào ngày 19/5/2011, tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện P vi phạm quy định về độ tuổi của anh N, ngoài ra không vi phạm các điều kiện khác về đăng ký kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật thì anh N đã đủ điều kiện về độ tuổi kết hôn. Anh N và vợ là chị P đang chung sống hạnh phúc, anh chị đều có nguyện vọng được tiếp tục chung sống với nhau để xây dựng hạnh phúc gia đình và yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân của anh chị, kể từ thời điểm anh N đủ tuổi kết hôn là ngày anh N bước sang tuổi 20, tức là ngày 08/8/2012. Căn cứ vào khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Điều 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, ngày 06/01/2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án xét thấy yêu cầu của anh N, chị P là có căn cứ và cần được chấp nhận.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 11 của Nghị quyết số 326/2016/UBNTVH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, ông Tẩn A N không phải nộp tiền lệ phí giải quyết việc dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; các Điều: 10, 11, 12 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm g khoản 2 Điều 39, các Điều 149, 238, 361, 367, 370, 371, 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, ngày 06/01/2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Tẩn A L. Hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Tẩn A N và chị Vàng Thị P theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 28, quyển số 01, ngày 19/5/2011, của Ủy ban nhân dân xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu.

2. Công nhận quan hệ hôn nhân của anh Tẩn A N và chị Vàng Thị P kể từ thời điểm anh Tẩn A N đủ tuổi kết hôn là ngày 08/8/2012.

3. Về lệ phí Tòa án: Người yêu cầu không phải nộp lệ phí giải quyết việc dân sự.

4. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định./.

Cỡ chữ