- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Quyết định việc HNGĐ Phạm Thị KIm C - Nguyễn Quân V"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Thị Kim C và anh Nguyễn Quân V.
- Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 63 /2022/QĐST - HNGĐ | Hà Tĩnh, ngày 07 tháng 7 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
(V/v yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn)
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần giải quyết việc Hôn nhân gia đình:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Bích Đào
Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Hạnh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên họp: Bà Dương Thị Thanh Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên họp công khai giải quyết việc Hôn nhân gia đình thụ lý số 103/2022/TLST
- HNGĐ ngày 03/6/2022 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”, Theo Quyết định mở phiên họp số 57/2022/QĐ-TA ngày 22/6/2022 gồm những người tham gia tố tụng sau:
Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân gia đình:
- Chị Phạm Thị Kim C, HKTT: Tổ dân phố 6, phường Đ, Thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt có đơn xin giải quyết vắng mặt).
- Anh Nguyễn Quân V; địa chỉ trước khi xuất cảnh: Tổ dân phố 6, phường Đ, Thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh; (Hiện đang lao động tại Vương quốc Anh - Vắng mặt tại phiên họp).
NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai chị Phạm Thị Kim C trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Kim C và anh Nguyễn Quân V đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 10/02/2015 tại Ủy ban nhân dân phường Đ, Thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sở tự nguyện và không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2015, anh Việt đi xuất khẩu tại Đài Loan, sau đó năm 2018 chuyển sang lao động tại vương quốc Anh. Quá trình anh Việt lao động tại nước ngoài giữa vợ chồng thường phát sinh nhiều mâu thuẫn, thiếu sự quan tâm và chia sẽ với nhau. Hiện tại, cả hai đều nhận thấy tình cảm không còn, không mong muốn tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân nên chị Clàm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn để mỗi người tự xây dựng cuộc sống mới tốt đẹp hơn.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung cháu Nguyễn Gia B, sinh ngày 29/6/2015 và Nguyễn Gia K, sinh ngày 22/4/2018. Khi ly hôn chị Ccó nguyện vọng trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung Nguyễn Gia K đến tuổi trưởng thành, giao con chung Nguyễn Gia B cho anh Nguyễn Quân V chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Hai bên không bên nào phải đóng góp cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với anh Nguyễn Quân V, sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã gửi thông báo thụ lý vụ án và được người thân của anh nhận thay. Quá trình xác minh người thân của anh V cung cấp thông tin hiện nay anh đang lao động tại vương quốc Anh nhưng không có địa chỉ cụ thể nên không thể cung cấp cho tòa án. Anh Việt cũng đã biết được việc chị Clàm đơn xin ly hôn và anh V cũng hoàn toàn nhất trí như yêu cầu ly hôn của chị C.
Tại phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của thẩm phán, thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau đã đề nghị Tòa án áp dụng các Điều 51, 55, 57, 81, 82, 83, 123, 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP ngày 26/4/2003 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao, Công văn số 253 ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao: Về tình cảm: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Thị Kim C và anh Nguyễn Quân V; về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa chị Phạm Thị Kim C và anh Nguyễn Quân V: Giao con chung Nguyễn Gia K, sinh ngày 22/4/2018 cho chị Phạm Thị Kim C trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành; giao con chung Nguyễn Gia B, sinh ngày 29/6/2015 cho anh Nguyễn Quân V trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, trong thời gian anh Việt đang lao động tại vương quốc Anh tạm thời giao cháu Nguyễn Gia B cho ông nội là ông Nguyễn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, hai bên không bên nào phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cấm, cản trở; Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc Hôn nhân gia đình đã được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của chị Phạm Thị Kim C và anh Nguyễn Quân V, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Tại Công văn số 10357/QLXNC-P5 ngày 20/5/2022 về việc cung cấp thông tin xuất nhập cảnh của Cục quản lý xuất nhập cảnh Bộ công an thể hiện: anh Nguyễn Quân V, sinh ngày 29/6/1993, CMTND số 183942049 do Công an Hà Tĩnh cấp ngày 20/3/2018, Hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố 6, phường Đ, Thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh đã xuất nhập cảnh 1 lần vào ngày 25/6/2018 qua Sân bay quốc tế Nội Bài, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Căn cứ quy định tại khoản 25 Điều 3, Điều 122, 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 29, 37, 39, 464, của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nội dung yêu cầu của chị Phạm Thị Kim C và anh Nguyễn Quân V thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
Để đảm bảo giải quyết vụ việc đúng quy định pháp luật, Tòa án đã tiến hành xác minh thông tin về anh Nguyễn Quân V thông qua ông Nguyễn T (bố đẻ anh V) và được ông cung cấp thông tin hiện nay anh Nguyễn Quân V đang lao động tại vương quốc Anh và thường xuyên liên lạc về với gia đình qua điện thoại nhưng địa chỉ cụ thể của Việt tại vương quốc Anh gia đình không rõ. Tòa án đã kết nối điện thoại qua cuộc gọi hình ảnh trên ứng dụng messenger với sự chứng kiến của ông Nguyễn T và đại diện chính quyền địa phương xác nhận anh Nguyễn Quân V là chồng chị Phạm Thị Kim C. Trao đổi qua điện thoại, anh V trình bày thống nhất về thời gian, địa điểm kết hôn, cuộc sống vợ chồng, quan hệ con chung đúng như chị Cđã trình bày. Vợ chồng sống cách xa nên phát sinh nhiều mâu thuẫn, cả hai thiếu sự quan tâm và chia sẽ với nhau, hiện tại, anh cũng nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm gì với nhau, nên chị Clàm đơn ly hôn anh cũng nhất trí ly hôn; Về con chung: Anh thống nhất giao con chung Nguyễn Gia K, sinh ngày 22/4/2018 cho chị Phạm Thị Kim C trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành; Anh trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung Nguyễn Gia B, sinh ngày 29/6/2015 đến tuổi trưởng thành, trong thời gian anh đang lao động tại vương quốc Anh tạm thời giao cháu Nguyễn Gia B cho ông nội là ông Nguyễn Trình trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, hai bên không bên nào phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cấm, cản trở; Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, anh Việt trình bày thêm hiện tại anh đang lao động tự do tại vương quốc Anh do điều kiện công việc anh không thể về Việt Nam để trực tiếp giải quyết việc ly hôn anh đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn vắng mặt, anh đồng ý việc Tòa án tống đạt văn bản tố tụng qua người thân ở Việt Nam là bố đẻ ông Nguyễn Trình; địa chỉ: Tổ dân phố 6, phường Đ, Thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Xét thấy, chị Phạm Thị Kim C và anh Nguyễn Quân V đã thống nhất thỏa thuận được với nhau về quan hệ tình cảm, con chung, tài sản chung, nợ chung. Vì vậy, Tòa án căn cứ quy định tại Điều 29, 361 Bộ luật tố tụng dân sự chuyển quan hệ pháp luật từ vụ án “Ly hôn” thành “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn” và căn cứ Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn về việc giải quyết vụ án ly hôn có người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ, Tòa án thực hiện tống đạt văn bản tố tụng cho anh Việt thông qua người thân là bố đẻ ông Nguyễn Trình.
Chị Phạm Thị Kim C và anh Nguyễn Quân V đều đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
Chị Phạm Thị Kim C có văn bản đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Căn cứ các Điều 205, 207 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đã ban hành Thông báo số 14/TB – TA ngày 15/6/2022 về việc vụ việc không hòa giải được.
Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, Thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, Quyết định mở phiên họp giải quyết việc hôn nhân gia đình theo đúng quy định pháp luật.
Tòa án yêu cầu đương sự giao nộp tài liệu chứng cứ và tiến hành xác minh tài liệu chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ là tuân thủ quy định tại các điều 93, 94, 95, 96, 97, 208 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Kim C và anh Nguyễn Quân V là vợ chồng, có đăng ký kết hôn vào ngày 10/02/2015 tại Ủy ban nhân dân phường Đ, Thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì anh Việt đi xuất khẩu lao động và vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vì vợ chồng sống cách xa nhau, thiếu sự quan tâm, chăm sóc, chia sẽ nên tình cảm dần phai nhạt. Hiện tại, chị Cvà anh Việt đều thừa nhận tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục, duy trì cuộc sống hôn nhân được nữa, mong muốn được ly hôn để tạo lập cuộc sống mới.
Xét thấy: Mục đích hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chung thủy, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau...nhưng hôn nhân giữa chị Cvà anh Việt không đạt được mục đích đó, mâu thuẫn đã trầm trọng, vợ chồng không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, chung thủy, giúp đỡ nhau.
Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng hoặc cả hai có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn” (khoản 1 Điều 51); “Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn....”(Điều 55).
Như vậy, chị Phạm Thị Kim C và anh Nguyễn Quân V đã tự nguyện thỏa thuận ly hôn. Căn cứ quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân gia đình, công nhận sự thỏa thuận này của các đương sự.
Về quan hệ con chung: Chị Phạm Thị Kim C và anh Nguyễn Quân V có 02 con chung, anh chị đều thống nhất sau ly hôn chị Phạm Thị Kim C trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Nguyễn Gia K, sinh ngày 22/4/2018 đến tuổi trưởng thành; anh Nguyễn Quân V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Gia B, sinh ngày 29/6/2015 đến tuổi trưởng thành, trong thời gian anh V đang lao động tại vương quốc Anh tạm thời giao cháu Nguyễn Gia B cho ông nội là ông Nguyễn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, hai bên không bên nào phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cấm, cản trở. Ông Nguyễn T cũng tự nguyện chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Gia B trong thời gian anh Việt đang lao động tại vương quốc Anh. Cháu Nguyễn Gia B cũng có đơn trình bày nguyện vọng ở với bố và trong thời gian bố đi vắng cháu sống cùng ông nội Nguyễn Trình. Do đó, cần căn cứ quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình, ghi nhận sự thỏa thuận tự nguyện của vợ chồng về việc chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng các con chung như các đương sự đã trình bày.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
Từ những phân tích trên, xét thấy sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, đúng pháp luật, không vi phạm điều cấm. Mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần công nhận sự thuận tình ly hôn, nuôi con của chị Phạm Thị Kim C và anh Nguyễn Quân V.
Về lệ phí: Các đương sự phải chịu lệ phí việc Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 146, 149, 361, 367, 369, 370 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 55, 57, 81, 82, 83 khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Thị Kim C và anh Nguyễn Quân V.
2. Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa chị Phạm Thị Kim C và anh Nguyễn Quân V: Giao con chung Nguyễn Gia K, sinh ngày 22/4/2018 cho chị Phạm Thị Kim C trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi); giao con chung Nguyễn Gia B, sinh ngày 29/6/2015 cho anh Nguyễn Quân V trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), trong thời gian anh V đang lao động tại vương quốc Anh tạm thời giao cháu Nguyễn Gia B cho ông nội là ông Nguyễn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, hai bên không bên nào phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cấm, cản trở.
3 Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
4. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Áp dụng Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 4, 6, 9, khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận sự tự nguyện nộp 300.000đ lệ phí ly hôn sơ thẩm của chị Phạm Thị Kim C (đã nộp tại biên lai số 0000205 ngày 03/6/2022 tại Cục thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh).
5. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân và gia đình không có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp không có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với Quyết định này.
Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao; - VKS, THA tỉnh Hà Tĩnh; - Các đương sự; - Nơi ĐKKH; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC HNGĐ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Thị Bích Đào |