- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn B “Mua bán trái phép chất ma túy” - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn B để sửa Bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2018/HS-PT Ngày: 20 - 9 – 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Việt.
Các Thẩm phán: Bà Từ Thị Hải Dương; Ông Nguyễn Thái Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Anh Việt – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Lý - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2018, tại Trường Đại học Quảng Bình, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình mở phiên toà lưu động xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 53/2018/HS-PT ngày 01/8/2018 đối với bị cáo Hoàng Văn B do có kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn B đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2018/HS-ST ngày 22 tháng 6 năm 2018 của Toà án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.
- Bị cáo kháng cáo: Hoàng Văn B, sinh ngày 03 tháng 6 năm 1975 tại xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện tại: Thôn B, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: Lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Hữu Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị H; có vợ Nguyễn Thị H, có 03 con sinh các năm 1996, 2000 và 2012; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 11 tháng 01 năm 2018 sau đó bị tạm giam đến ngày 08 tháng 02 năm 2018, được Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”; ngày 11 tháng 5 năm 2018, Công an thị xã Ba Đồn tiếp nhận Hoàng Văn B theo Quyết định bắt tạm giam số 05/2018/HSST/QĐBTG, ngày 07 tháng 5 năm 2018 của Toà án nhân dân thị xã Ba Đồn; ngày 28 tháng 5 năm 2018 Hoàng Văn B được Toà án nhân dân thị xa Ba Đồn thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”. (Bản án sơ thẩm xác định Hoàng Văn B bị bắt tạm giam ngày 07 tháng 5 năm 2018 là không đúng); bị cáo hiện đang tại ngoại. Có mặt.
Vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Trần Tiến D nhưng không có kháng cáo, Bản án sơ thẩm không bị kháng nghị nên Toà án không triệu tập tham gia phiên toà phúc thẩm.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được xác định như sau:
Vào lúc 12 giờ 00 phút ngày 11 tháng 01 năm 2018 tại nhà riêng của Hoàng Văn B ở thôn B, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình, Tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thị xã Ba Đồn phát hiện và bắt quả tang Hoàng Văn B đang có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Trần Tiến D. Tang vật thu giữ có: 02 viên nén hình tròn, màu hồng, được bọc lại bằng giấy nilon màu đen và số tiền 300.000 đồng thu tại túi quần sau của Hoàng Văn B đang mặc trên người. Quá trình khám xét, B từ nguyện giao nộp 1 viên nén hình tròn, màu hồng; lực lượng Công an đã phát hiện và thu giữ thêm 02 viên nén hình tròn, màu hồng, được bọc trong giấy nilon màu đen giấu ở đầu giường ngủ ở phòng phía Nam; 19 viên nén hình tròn, màu hồng, được bọc trong giấy nilon màu đen, đựng trong một túi nilon màu xanh, giấu trong một chiếc tất chân đặt dưới nệm giường phòng ngủ, tại phòng ngủ ở phía Bắc; 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tổng hợp tự chế giấu ở phòng bếp; thu giữ số tiền 2.550.000 đồng để trong két sắt đặt tại phòng ngủ.
Bản Kết luận giám định số 155/GĐ-PC54 ngày 16 tháng 01 năm 2018, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình kết luận: 24 viên nén màu hồng thu giữ từ Hoàng Văn B gửi đến giám định là là Methamphetamine, có tổng khối lượng là 2,456 g (hai phẩy bốn trăm năm mươi sáu gam). Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, Số thứ tự: 67, Danh mục II, Nghị định số 82/2013/NĐ – CP ngày 19 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ.
Quá trình điều tra, Trần Tiến D khai nhận, ngày 11 tháng 01 năm 2018, tại nhà Hoàng Văn B, trong khi Hoàng Văn B đang bán ma tuý cho Trần Tiến D thì bị bắt.
Cơ quan điều tra xác định Trần Tiến D, là người mua ma túy của Hoàng Văn B với mục đích để sử dụng, hành vi của D không cấu thành tội phạm nên đã trả tự do cho Trần Tiến D theo Quyết định trả tự do số 01/CSĐT ngày 11 tháng 01 năm 2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Ba Đồn.
Quá trình điều tra không xác định được số tiền 2.550.000 đồng để trong két sắt đặt tại phòng ngủ của bị cáo có liên quan đến việc phạm tội của bị cáo nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho vợ bị cáo là bà Nguyễn Thị H.
Cáo trạng số: 09/CT-VKSNDTXBĐ ngày 04 tháng 5 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn truy tố bị cáo Hoàng Văn B về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Bản án số 11/2017/HSST, ngày 22 tháng 6 năm 2018 của Toà án nhân dân thị xã Ba Đồn quyết định tuyên bố bị cáo Hoàng Văn B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Hoàng Văn B 02 (Hai) năm tù. Được trừ thời gian bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam trước đây, cụ thể: Thời gian bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11 tháng 01 năm 2018 đến ngày 08 tháng 02 năm 2018 và từ ngày 07 tháng 5 năm 2018 đến ngày 28 tháng 5 năm 2018. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào Trại thi hành án.
Bản án sơ thẩm còn tuyên tịch thu tiêu huỷ các vật chứng vụ án được thu giữ; tịch thu sung công số tiền 300.000 đồng do bị cáo bán ma tuý cho Trần Tiến D mà có; tuyên buộc bị cáo Hoàng Văn B phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; tuyên quyền kháng cáo của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.
Trong hạn luật định, ngày 05 tháng 7 năm 2018, bị cáo Hoàng Văn B có đơn kháng cáo trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân thường xuyên đau ốm, bố bị cáo là người có công. Theo các tình tiết giảm nhẹ của các điểm s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được ở ngoài xã hội để chăm lo cuộc sống gia đình.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Hoàng Văn B khai và thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như Cáo trạng truy tố và xét xử của Bản án sơ thẩm, giữ nguyên kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo và giao nộp 02 bản tóm tắt hồ sơ Bệnh án, 01 giấy chứng nhận phẫu thuật do Hoàng Văn B bị tai nạn gảy xương đòn phải, chấn động não điều trị tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Bắc Quảng Bình, vào viện ngày 13 tháng 6 năm 2018, ra viện ngày 21 tháng 6 năm 2018 và vào viện ngày 26 tháng 7 năm 2018, ra viện ngày 06 tháng 8 năm 2018.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố xét xử phúc thẩm vụ án đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn B theo tình tiết giảm nhẹ mới “Người phạm tội là người bị khuyết tật nặng” được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa được Bản án sơ thẩm xem xét để giảm cho bị cáo 03 tháng tù, xử phạt bị cáo mức án 21 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Theo lời khai nhận tội của bị cáo Hoàng Văn B tại phiên toà phúc thẩm phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định loại ma tuý, trọng lượng chất ma tuý bị thu giữ, lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm, Hội đồng xét xử thấy hành vi phạm tội của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành của tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” được quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015). Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2018/HS-ST ngày 22 tháng 6 năm 2018 của Toà án nhân dân thị xã Ba Đồn quyết định tuyên bố bị cáo Hoàng Văn B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.
. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo của bị cáo Hoàng Văn B, Hội đồng xét xử thấy, bị cáo nhận thức và biết được tác hại của việc sử dụng trái phép chất ma tuý, biết và nhận thức được mọi hành vi có liên quan đến mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật, nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm và bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì phải chịu hình phạt rất nghiêm khắc nhưng bị cáo vẫn bất chấp quy định của pháp luật để bán trái phép chất ma tuý cho người khác sử dụng thu lợi bất chính. Trong vụ án này bị cáo bị truy tố và xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, có hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Theo khối lượng 2,456 gam ma tuý là Methamphetamine bị khám xét thu giữ tại nhà ở của bị cáo khi bị cáo bị bắt quả tang đang bán trái phép chất ma tuý cho Trần Tiến D, các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được Bản án sơ thẩm áp dụng để quyết định xử phạt bị cáo Hoàng Văn B mức án 2 năm tù là thoả đáng, không nặng.
Bị cáo phạm tội và xét xử khi Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung một số điều năm 2017 đã có hiệu lực thi hành nên tình tiết bị cáo có bố là người có công được Nhà nước tặng thưởng 1 Huy chương Kháng chiến Hạng Nhì, 01 Huân chương Kháng chiến Hạng Nhất không phải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 được sửa đổi bổ sung theo Luật số 12/2017/QH14 mà thuộc vào tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được Bản án sơ thẩm áp dụng cho bị cáo.
Theo tình tiết giảm nhẹ mới bị cáo bị tai nạn phẫu thuật gảy xương đòn phải, chấn động não chưa bình phục, hiện đang điều trị, thuộc trường hợp “Người phạm tội là người bị khuyết tật nặng” được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa được Bản án sơ thẩm xem xét, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn B để sửa Bản án sơ thẩm, áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, giảm cho bị cáo một phần hình phạt như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà xét xử phúc thẩm vụ án.
. Về án phí hình sự phúc thẩm đối với bị cáo Hoàng Văn B.
Bị cáo Hoàng Văn B kháng cáo xin giảm nhẹ có thêm tình tiết mới chưa được Bản án sơ thẩm xem xét, được cấp phúc thẩm chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357; khoản 2 các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn B để sửa Bản án sơ thẩm.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; các điểm p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Hoàng Văn B 21 (hai mươi mốt) tháng tù, được khấu trừ thời gian bị cáo đã bị bắt tạm giữ sau đó bị tạm giam từ ngày 11 tháng 01 năm 2018 đến ngày 08 tháng 02 năm 2018 và từ ngày 11 tháng 5 năm 2018 đến ngày 28 tháng 5 năm 2018. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào Trại thi hành án.
2. Bị cáo Hoàng Văn B không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về tịch thu tiêu huỷ tang vật vụ án; về tịch thu sung công số tiền 300.000 đồng do bị cáo bán ma tuý mà có; buộc bị cáo Hoàng Văn Bảy phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước không có kháng cáo, không bị kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (20 tháng 9 năm 2018).
| Nơi nhận: - Theo khoản 2 Điều 262 BLTTHS; - Phòng HSNVCS CAQB; - Vụ GĐKT 1 TAND TC; - Sở Tư pháp QB; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu án văn THS, VP TAQB. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Xuân Việt |