- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tc HNGD"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Hà Xuân Gi và chị Nguyễn Thị Hoài Th.
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 62 /2023/QĐST - HNGĐ | Hà Tĩnh, ngày 20 tháng 4 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
(V/v yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn)
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần giải quyết việc Hôn nhân gia đình:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên họp: Bà Trương Thị Lệ Thu
Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Hạnh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Quỳnh Lê - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên họp công khai giải quyết việc Hôn nhân gia đình thụ lý số 44/2023/TLST
- HNGĐ ngày 23/3/2023 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”, Theo Quyết định mở phiên họp số 58/2023/QĐ-ST ngày 12/4/2023 gồm những người tham gia tố tụng sau:
- Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân gia đình:
Người yêu cầu thứ nhất: Anh Hà Xuân Gi, sinh ngày 16/10/1992; HKTT và địa chỉ trước khi xuất cảnh: Xóm C, xã Nghĩa H, huyện Tân K, tỉnh Ngh Hiện đang lao động tại Đài Loan. (Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt)
Người yêu cầu thứ hai: Chị Nguyễn Thị Hoài Th, sinh ngày 08/8/1996; HKTT: Tổ dân phố 2, Thị trấn Thạch H, huyện Thạch H, tỉnh Hà Tĩnh. (Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt)
NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:
Theo đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, bản tự khai của anh Hà Xuân Gi và chị Nguyễn Thị Hoài Th trình bày thống nhất như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Hà Xuân Gi và chị Nguyễn Thị Hoài Th đăng ký kết hôn hợp pháp, tự nguyện không bị ai ép buộc vào ngày 16/4/2018 tại Ủy ban nhân dân xã Nghĩa H, huyện Tân K, tỉnh Ngh. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc tại xã Nghĩa H, huyện T, tỉnh Ngh. Đến khoảng cuối năm 2019, vợ chồng bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn và ly thân nhau từ đó cho đến nay. Đến tháng 12/2019, anh Hà Xuân Gi đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, sau đó chị Hoài Th chuyển về sống tại quê ngoại ở Thị trấn Thạch Hà. Tháng 07/2022, anh Gi có về Việt Nam nhưng tình cảm vợ chồng cũng không cải thiện, vợ chồng vẫn tiếp tục mâu thuẫn, không ai muốn tiếp tục cuộc hôn nhân này nữa. Tính đến nay, vợ chồng đã sống ly thân nhau 3 năm, mỗi người đều có cuộc sống, suy nghĩ và lối sống riêng, mục đích hôn nhân không đạt được nên thống nhất làm đơn đề nghị Tòa án công nhận việc thuận tình ly hôn để mỗi người tự xây dựng cuộc sống mới tốt đẹp hơn.
Về con chung: Anh Hà Xuân Gi và chị Nguyễn Thị Hoài Th không có con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Hà Xuân Gi và chị Nguyễn Thị Hoài Th đều có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải mà giải quyết ly hôn luôn.
Ngoài ra, anh Hà Xuân Gi có đơn lựa chọn Tòa án giải quyết và đơn yêu cầu được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ việc, uỷ quyền việc giao nhận tài liệu chứng cứ cho chị Nguyễn Thị Hoài Th; (vợ); Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx; HKTT: Tổ dân phố 2, Thị trấn Thạch H, huyện Thạch H, tỉnh Hà Tĩnh để giải quyết việc ly hôn. Tài liệu văn bản anh Hà Xuân Gi gửi về đều được Văn phòng kinh tế văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc xác nhận. Quá trình Tòa án tỉnh Hà Tĩnh giải quyết vụ việc chị Nguyễn Thị Hoài Th cũng có văn bản đồng ý việc nhận ủy quyền và cam đoan sẽ thông báo đầy đủ nội dung các văn bản tố tụng Tòa án tống đạt cho anh Hà Xuân Gi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của thẩm phán, thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau đã đề nghị Tòa án áp dụng các Điều 369, Điều 370 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 51, các Điều 55, 57, 123, 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chấp nhận yêu cầu của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc Hôn nhân gia đình; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp; Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh nhận định:
Thủ tục tố tụng: Anh Hà Xuân Gi, sinh ngày 16/10/1992: Hộ chiếu số xxxxxxxx do Cục QLXNC cấp ngày 21/11/2019 hiện đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan được xác nhận bởi Văn phòng kinh tế văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc. Căn cứ quy định tại khoản 25 Điều 3, các Điều 122, 123, 127 Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 29, 37, 39, 464, của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nội dung yêu cầu của anh Hà Xuân Gi và chị Nguyễn Thị Hoài Th thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
Anh Hà Xuân Gi có đơn yêu cầu được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và ủy quyền việc giao nhận tài liệu chứng cứ cho chị Nguyễn Thị Hoài Th để giải quyết việc ly hôn. Tài liệu văn bản anh Hà Xuân Gi gửi về Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh từ Đài Loan đều được xác nhận bởi Văn phòng kinh tế văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc. Quá trình Tòa án tỉnh Hà Tĩnh giải quyết vụ việc chị Nguyễn Thị Hoài Th cũng có văn bản đồng ý việc nhận ủy quyền từ anh Hà Xuân Gi và cam đoan sẽ thông báo đầy đủ nội dung các văn bản tố tụng Tòa án tống đạt cho anh Hà Xuân Gi, đồng thời chị đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình vắng mặt anh Hà Xuân Gi và chị Nguyễn Thị Hoài Th theo thủ tục chung.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Hà Xuân Gi và chị Nguyễn Thị Hoài Th đã tuân thủ các điều kiện kết hôn và đã đăng ký kết hôn vào ngày 16/4/2018 tại Ủy ban nhân dân xã Nghĩa H, huyện Tân K, tỉnh Ngh. Căn cứ quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đây là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, cuộc sống chung của anh Hà Xuân Gi và chị Nguyễn Thị Hoài Th hạnh phúc được thời gian đầu, đến cuối năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn và ly thân nhau từ đó cho đến nay. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do bất đồng về suy nghĩ và lối sống, thiếu sự chia sẽ, quan tâm, yêu thương dành cho nhau. Anh Gi và chị Th đều tự nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hạnh phúc hôn nhân không đạt được và không mong muốn tiếp tục duy trì mối quan hệ này nên đều làm đơn đề nghị Tòa án ghi nhận tự nguyện ly hôn.
Xét thấy: Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau nhưng hôn nhân của anh Hà Xuân Gi và chị Nguyễn Thị Hoài Th không đạt được mục đích đó.
Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng hoặc cả hai có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn” (khoản 1 Điều 51); “Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, Gi dục con trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn....”(Điều 55).
Như vậy, anh Hà Xuân Gi và chị Nguyễn Thị Hoài Th đã tự nguyện thỏa thuận ly hôn. Căn cứ quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân gia đình, công nhận sự thỏa thuận này của các đương sự.
Về quan hệ con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, anh Hà Xuân Gi và chị Nguyễn Thị Hoài Th không có con chung nên miễn xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
Xét sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, đúng pháp luật, không vi phạm điều cấm. Tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần công nhận sự thuận tình ly hôn của họ để mỗi người tự xây dựng cuộc sống mới.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 55, 57, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, các Điều 361, 367, 369, 370, 371, Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 35, 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án:
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Hà Xuân Gi và chị Nguyễn Thị Hoài Th.
2. Về quan hệ con chung: Không có con chung.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết
4. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện nộp 300.000đ lệ phí ly hôn sơ thẩm của chị Nguyễn Thị Hoài Th (đã nộp 300.000đ tại biên lai số 0000495 ngày 23/3/2023 tại Cục thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh).
5. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân và gia đình không có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp không có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với Quyết định này.
6. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay.
| Nơi nhận - TAND cấp cao; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh; - UBND xã Nghĩa Hoàn; - Đương sự ; - Lưu HS, TDS. | THẨM PHÁN- CHỦ TRÌ PHIÊN HỌP Trương Thị Lệ Thu |