vanban.org

Quyết định 62/2023/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND Quận 6, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 18/05/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người bị mất năng lực hành vi dân sự của bà Trần Thị Hồng T.

Tuyên bố bà Trần Thị Hồng L, sinh năm 1960, địa chỉ thường trú: 15 Đường số 35B, Phường M, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh là một người mất năng lực hành vi dân sự. Mọi giao dịch dân sự của bà Trần Thị Hồng L phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "YÊU CẦU TUYÊN BỐ MẤT NĂNG LỰC HÀNH VI DÂN SỰ ĐỐI VỚI BÀ TRẦN THỊ HỒNG L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người bị mất năng lực hành vi dân sự của bà Trần Thị Hồng T.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 2 Luật Người cao tuổi; Điều 22 Bộ luật Dân sự
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 62/2023/QĐST-DSQuận 6, ngày 18 tháng 5 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Dương Phúc Trường

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thủy

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Võ Thị Ngọc Huyền - Kiểm sát viên

Ngày 18 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6 mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 36/2023/DSST ngày 07 tháng 3 năm 2023 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 13/2023/QĐST-DS ngày 04 tháng 5 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu: Bà Trần Thị Hồng T, sinh năm 1956

Địa chỉ thường trú: 01 Lầu 1 đường H, Phường B, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Trần Thế N, sinh năm 1946

Địa chỉ thường trú: 32/21 đường H, Phường M, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Trần Thị Hồng T, sinh năm 1956

Địa chỉ thường trú: : 01 Lầu 1 đường H, Phường B, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Theo Giấy uỷ quyền số 1810 do Văn phòng công chứng A, tỉnh Ninh Thuận chứng nhận ngày 22/3/2023).

2. Bà Trần Thị Hồng P, sinh năm 1954

Địa chỉ thường trú: 80/2/2 Đường T, Phường M, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Trần Thị Hồng T, sinh năm 1956.

Địa chỉ thường trú: : 01 Lầu 1 đường H, Phường B, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Theo Giấy uỷ quyền số 00834 do Văn phòng công chứng Nguyễn Thị T, Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận ngày 16/3/2023).

NỘI DUNG SỰ VIỆC:

Trong đơn yêu cầu, bản tự khai và tại phiên họp, người yêu cầu là bà Trần Thị Hồng T trình bày:

Cha mẹ của bà là ông Trần Thế N, sinh năm 1921, chết năm 1999 và bà Phạm Thị N, sinh năm 1929, chết năm 1972 có với nhau 07 người con chung gồm: Ông Trần Thế N, sinh năm 1946; ông Trần Thế Â, sinh năm 1948, chết năm 2009; bà Trần Thị Hồng H, sinh năm 1951, chết năm 2002; bà Trần Thị Hồng P, sinh năm 1954; bà Trần Thị Hồng T, sinh năm 1956; ông Trần Thế H, sinh năm 1958, chết năm 2003; bà Trần Thị Hồng L, sinh năm 1960.

Từ nhỏ bà Trần Thị Hồng L có thể chất và tinh thần bình thường. Vào năm 2010, do bà L gặp biến cố trong cuộc sống đã ảnh hưởng lớn đến tâm lý, tinh thần của bà, mặc dù đã được gia đình đưa đi điều trị nhiều lần ở bệnh viện nhưng bệnh tình vẫn không giảm mà ngày càng trở nặng dẫn đến không kiểm soát được lời nói, hành vi của bản thân. Hiện nay, bà Trần Thị Hồng L là đối tượng bảo trợ xã hội hưởng chế độ: Người khuyết tật nặng theo Quyết định về việc điều chỉnh hệ số trợ cấp xã hội số 5767/QĐ-UBND-LĐTBXH do Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 14/12/2020.

Nay bà Trần Thị Hồng T yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Trần Thị Hồng L là người mất năng lực hành vi dân sự. Lý do yêu cầu: làm thủ đăng ký giám hộ cho bà L để thực hiện các giao dịch dân sự, thủ tục hành chính.

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm ông Trần Thế N, bà Trần Thị Hồng P do bà Trần Thị Hồng T làm đại diện theo ủy quyền: Thống nhất với phần trình bày của bà T, yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Trần Thị Hồng L là người mất năng lực hành vi dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 tham gia phiên họp phát biểu ý kiến: Từ khi Tòa án nhân dân Quận 6 thụ lý đến thời điểm này, việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký phiên họp và những người tham gia tố tụng được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, đề nghị Tòa án nhân dân Quận 6 chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Hồng T, tuyên bố bà Trần Thị Hồng L là người mất năng lực hành vi dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân Quận 6 Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:

1 Về loại việc dân sự và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Bà Trần Thị Hồng T có đơn yêu cầu tuyên bố bà Trần Thị Hồng L là một người bị mất năng lực hành vi dân sự. Đây là việc dân sự quy định tại khoản 1 Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự. Người bị yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự có địa chỉ cư trú tại Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, căn cứ quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

2 Về yêu cầu của đương sự:

Căn cứ bản kết luận giám định pháp y tâm thần số: 2138/KLGĐ ngày 03/4/2023 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Thành Phố Hồ Chí Minh đã kết luận:

- Về y học: Đương sự: Tâm thần phân liệt thể di chứng (F20.5 – ICD10).

- Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Đương sự mất khả năng

nhận thức và điều khiển hành vi.

Như vậy, Tòa án có đủ cơ sở tuyên bố bà Trần Thị Hồng L là người mất năng lực hành vi dân sự, việc chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Hồng T là phù hợp với quy định tại Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 tại phiên

họp là có căn cứ nên được chấp nhận.

4 Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Trần Thị Hồng T là người

cao tuổi nên thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng lệ phí, lệ phí theo quy định tại Điều 2 Luật Người cao tuổi năm 2009 và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 2 Điều 39, Điều 361, 370, 371, 372, 378 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 22 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 2 Luật Người cao tuổi năm 2009;

- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người bị mất năng lực hành vi dân sự của bà Trần Thị Hồng T.

Tuyên bố bà Trần Thị Hồng L, sinh năm 1960, địa chỉ thường trú: 15 Đường số 35B, Phường M, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh là một người mất năng lực hành vi dân sự.

Mọi giao dịch dân sự của bà Trần Thị Hồng L phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Trần Thị Hồng T không phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Đương sự có mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định giải quyết việc dân sự.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ