vanban.org

Quyết định 62/2022/QĐ-PT — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 11/01/2023 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/01/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của ông Hoàng Nhật A là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại X. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 686/2022/QĐST-DS ngày 27 tháng 4 năm 2022 của Tòa án Nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, về việc: …

Án phí dân sự phúc thẩm: Ngân hàng Thương mại X phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, đã nộp đủ theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0050156 ngày 11/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Tp. Hồ Chí Minh. Quyết định này có hiệu lực pháp lu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng Thương mại X - Trần Uyên B"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của ông Hoàng Nhật A là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại X. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 686/2022/QĐST-DS ngày 27 tháng 4 năm 2022 của Tòa án Nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, về việc: …
  • Căn cứ chính? Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 62/2022/QĐ-PTThành phố Hồ Chí Minh, ngày 11 tháng 01 năm 2023.

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Với thành phần Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trần Thị Quỳnh Châu

Các Thẩm phán:

1. Ông Lại Huỳnh Tú

2. Bà Vũ Thị Thu Hương

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp: Ông Lê Đức Anh – Thư ký Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: ông Đỗ Văn Hiếu - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Tại quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 686/2022/QĐST-DS ngày 27 tháng 4 năm 2022 của Tòa án Nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Tòa án Nhân dân quận Bình Thạnh đã căn cứ vào Điều 48, 217, 218, 219, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự để đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, giữa:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại X.

Địa chỉ: thành phố Tân An, tỉnh Long An.

Địa chỉ liên lạc: Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Nhật A. Chức vụ: Phó Tổng Giám đốc phụ trách Khối công nợ Ngân hàng Y. (Theo giấy ủy quyền số 21/2022/GUQ-CB ngày 15/02/2022)

2. Bị đơn: Bà Trần Uyên B

Địa chỉ: quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người kháng cáo: Ngân hàng Thương mại X.

Tại Đơn kháng cáo ngày 29/6/2022 của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại X ủy quyền cho ông Hoàng Nhật A kháng cáo nội dung: Đề nghị Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 686/2022/QĐST-DS ngày 27 tháng 4 năm 2022 của Tòa án Nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí minh với lý do: Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 686/2022/QĐST-DS ngày 27 tháng 4 năm 2022 của Tòa án Nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí minh căn cứ theo quy định tại Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 là chưa đúng theo quy định của pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng Thương mại X. Đồng thời, có dấu hiệu xâm phạm tới phán quyết trong Bản án số 30/2017/HSPT ngày 24/01/2017 của Tòa án cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại phiên họp phúc thẩm:

Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu:

Về thời hạn kháng cáo: Căn cứ khoản 2 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, kháng cáo của ông Hoàng Nhật A là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại X trong thời hạn luật định.

Về nội dung kháng cáo: Đề nghị Hội đồng phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, căn cứ điểm a, khoản 5, Điều 314 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 686/2022/QĐST-DS ngày 27 tháng 4 năm 2022 của Tòa án Nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

XÉT THẤY:

Các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại X như sau: “Tuyên vô hiệu các giao dịch tất toán các khoản vay đối với các hợp đồng số 040.181.13/HDTD-STK, 040.180.13/HDTD-STK, 040.179.13/HDTD-STK cùng ngày 21/6/2013 do nguồn tiền dùng để tất toán là vật chứng của vụ án hình sự và đã bị thu hồi; Buộc bà Trần Uyên B phải trả cho Ngân hàng số tiền gốc và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng số 040.181.13/HDTD-STK, 040.180.13/HDTD-STK, 040.179.13/HDTD-STK cùng ngày 21/6/2013, tạm tính đến hết ngày 12/8/2019 là 643.313.510.313 đồng (Sáu trăm bốn mươi ba tỷ ba trăm mười ba triệu năm trăm mười ngàn ba trăm mười ba đồng), và nợ lãi phát sinh kể từ ngày 13/8/2019 cho đến khi bên vay trả dứt nợ cho Ngân hàng. Trường hợp bà Trần Uyên B không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ vay nêu trên cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền xử lý số tiền của sổ tiết kiệm số TB0531762, TB0549311, TB0549330, TB0552672, TB0531755, TB0531763, TB0581198 để thu hồi nợ cho Ngân hàng theo quy định. Trường hợp số tiền của các sổ tiết kiệm không đủ để thu hồi nợ thì Ngân hàng Y có quyền xử lý các sổ tiết kiệm khác trong số 124 sổ tiết kiệm mà bản án số 30/2017/HSPT của TAND cấp cao ngày 24/01/2017 đã tuyên giao cho Ngân hàng Y để thu hồi nợ. Đề nghị Tòa án tuyên cơ quan thi hành án được quyền kê biên các tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Trần Uyên B để đảm bảo thi hành án.” Theo đó, các yêu cầu trên của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại X đã được giải quyết bằng Bản án hình sự phúc thẩm số 30/2017/HSPT ngày 24/01/2017 của Tòa án Nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 1052/2019/KDTM-PT ngày 19/11/2019 của Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ chí Minh đã có hiệu lực pháp luật. Cụ thể, Bản án hình sự phúc thẩm số 30/2017/HSPT ngày 24/01/2017 của Tòa án Nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định: “...Giải tỏa kê biên 124 sổ tiết kiệm và giao cho Ngân hàng Thương mại X tiếp tục quản lý để đảm bảo giải quyết xử lý số tiền 5.190 tỷ đồng, được xem là chưa tất toán đối với ông Quí Thanh, bà Trần Ngọc Bích và các cá nhân khác liên quan đến khoản vay của các ngày 21/6/2013, 26/7/2013, 30/7/2013 theo đúng quy định pháp luật…. 07 sổ tiết kiệm số: TB0-531762, TB0-531763, TB0-531755, TB-0581198, TB0-549311, TB0-549330, TB0-552672 đứng tên Trần Uyên B…” và Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 1052/2019/KDTM-PT ngày 19/11/2019 của Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ chí Minh đã nhận định bà Trần Uyên B đã chứng minh chuyển trả lãi và gốc các hợp đồng vay ngày 21/3/2016 thông qua ủy nhiệm chi như sau: “…Phía nguyên đơn và người liên quan cũng đã chứng minh chuyển trả lãi và gốc thông qua 32 ủy nhiệm chi (UNC) cụ thể như sau: … UNC số 1151: Số tiền 286.757.033.611 đồng để thanh lý hợp đồng vay số 040.180.13/HĐTD-STK ngày 21/6/2013; UNC số 1194: Số tiền 25.171.128.818 đồng để thanh lý hợp đồng vay số 040.179.13/HĐTD-STK ngày 21/6/2013; UNC số 1198: Số tiền 15.098.425.556 đồng để thanh lý hợp đồng vay số 040.181.13/HĐTD-STK ngày 21/6/2013…” và Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 1052/2019/KDTM-PT ngày 19/11/2019 của Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ chí Minh đã quyết định: “…Bà Trần Uyên B: 07 sổ tiết kiệm số TB0531762, TB0531763, TB0531755, TB0581198, TB0549311, TB0549330, TB0552672. Tiền gốc: 333.518.445.000 đồng, lãi phát sinh tính đến ngày 12/8/2019: 155.333.257.751 đồng. Tổng cộng: 488.851.702.751 đồng (bốn trăm tám mươi tám tỷ, tám trăm năm mươi mốt triệu, bảy trăm lẻ hai ngàn, bảy trăm năm mươi mốt) đồng. Cấn trừ số tiền bà Trần Uyên B vay là: 321.000.000.000 đồng (Ba trăm hai mươi mốt tỷ) đồng theo Hợp đồng số 040.179.13/HĐTD-STK ngày 21/6/2013; Hợp đồng 040.180.13/HÐTD-STK ngày 21/6/2013; Hợp đồng 040.181.13/HĐTD-STK ngày 21/6/2013. Bà Trần Uyên B còn được nhận là 167.851.702.751 đồng (một trăm sáu mươi bảy tỷ, tám trăm năm mươi mốt triệu, bảy trăm lẻ hai ngàn, bảy trăm năm mươi mốt) đồng (488.851.702.751 đồng - 321.000.000.000 đồng = 167.851.702.751 đồng) …” nên Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 192, điểm g khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng Dân sự là đúng quy định pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 686/2022/QĐST-DS ngày 27 tháng 4 năm 2022 của Tòa án Nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại phiên họp, Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 686/2022/QĐST-DS ngày 27 tháng 4 năm 2022 của Tòa án Nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ, có cơ sở được Hội đồng phúc thẩm chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

- Căn cứ điểm a Khoản 5 Điều 314 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Hoàng Nhật A là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại X. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 686/2022/QĐST-DS ngày 27 tháng 4 năm 2022 của Tòa án Nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại X với bị đơn bà Trần Uyên B.

2. Án phí dân sự phúc thẩm: Ngân hàng Thương mại X phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, đã nộp đủ theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0050156 ngày 11/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Tp. Hồ Chí Minh.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lại Huỳnh Tú

Vũ Thị Thu Hương

Trần Thị Quỳnh Châu

Cỡ chữ