vanban.org

Quyết định 62/2021/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND Quận 4, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 07/06/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Nguyễn Tất V:

Tuyên bố bà Nguyễn Thị Ái N, sinh năm 1958, nơi cư trú cuối cùng: 129/23A/8 Đường B, Phường B (nay là Phường C), Quận T, Thành phố H là đã chết. Ngày chết của bà Nguyễn Thị Ái N là ngày 08/4/1987. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Nguyễn Tất V:
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 62/2021/QĐST-DSQuận T, ngày 07 tháng 6 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T - THÀNH PHỐ H

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trương Thị Kiều

Thư ký phiên họp: Ông Phạm Văn Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân Quận T, Thành phố H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận T tham gia phiên họp: Bà Châu Ngọc Hân – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận T, Thành phố H mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 118/2020/TLST-DS ngày 09 tháng 10 năm 2020 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 286/2021/QĐST-DS ngày 27 tháng 5 năm 2021.

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Tất V

Địa chỉ: 129/23A/8 Đường B, Phường C, Quận T-TP. H.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Ái N

Nơi cư trú cuối cùng: 129/23A/8 Đường B, Phường B (nay là Phường C), Quận T, Thành phố H.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu ngày 04/9/2020 và bản tự khai ngày 17/11/2020, ông Nguyễn Tất V khai nhận:

Cha ông tên Nguyễn Tất T, sinh năm 1903, chết năm 1992. Mẹ ông tên Ngô Thị T, sinh năm 1923, chết năm 2005. Ông T và bà T có 02 người con chung gồm: Nguyễn Tất V, sinh năm 1956 và Nguyễn Thị Ái N, sinh năm 1958. Ông bà nội và ông bà ngoại của ông đã chết từ lâu, chết trước cha mẹ ông nên ông không biết rõ họ tên.

Bà Nguyễn Thị Ái N sinh sống tại nhà số 129/23A/8 Đường B, Phường C, Quận T. Đến năm 1975, bà N theo đoàn người đi nước ngoài và mất tích cho đến nay. Gia đình đã nhiều lần tổ chức tìm kiếm nhưng không có tin tức về bà N. Trước khi mất tích, bà N sống độc thân, không có chồng con. Nay ông yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị Ái N là người đã chết theo quy định.

Tại phiên họp:

- Ông V có đơn xin vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị Ái N là người đã chết.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận T:

+ Về tố tụng: Tòa án thụ lý giải quyết việc dân sự là đúng thẩm quyền và tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng.

+ Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Tất V, tuyên bố bà Nguyễn Thị Ái N, sinh năm 1958; Nơi cư trú cuối cùng: 129/23A/8 Đường B, Phường B (nay là Phường C), Quận T là người đã chết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân Quận T nhận định:

Ông Nguyễn Tất V yêu cầu tuyên bố bà Nguyễn Thị Ái N là người đã chết theo quy định tại Khoản 4 Điều 27 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người bị yêu cầu là bà N có nơi cư trú cuối cùng tại Quận T nên việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận T theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 35 và Điểm b Khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Nguyễn Tất V có đơn xin vắng mặt tại phiên họp nên Tòa án tiến hành mở phiên họp vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Cha mẹ của ông Nguyễn Tất V là ông Nguyễn Tất T, sinh năm 1903, chết năm 1992 (trích lục khai tử số 429/TLKT-BS do Ủy ban nhân dân Phường C, Quận T cấp ngày 18/11/2020) và bà Ngô Thị T, sinh năm 1923, chết năm 2005 (giấy chứng tử cấp ngày 20/5/2005).

Ông T và bà T có 02 người con gồm: Nguyễn Tất V, sinh năm 1956 (bản sao khai sanh số hiệu 440, năm 1956 do Ủy ban nhân dân Quận T cấp ngày 31/01/1956) và Nguyễn Thị Ái N, sinh năm 1958 (trích lục bộ khai sanh số hiệu 3400-A lập ngày 20/5/1958).

Ông Nguyễn Tất V là anh của bà Nguyễn Thị Ái N nên ông V có quyền yêu cầu tuyên bố bà N là đã chết.

Căn cứ lời khai của ông V xác định bà Nguyễn Thị Ái N theo đoàn người đi nước ngoài và mất tích từ năm 1975 đến nay không có tin tức.

Căn cứ kết quả xác minh ngày 23/10/2020 của Công an Phường C, Quận T có nội dung: “Tại địa chỉ 129/23A/8 Đường B, Phường C, Quận T không có nhân khẩu Nguyễn Thị Ái N, sinh năm 1958 đăng ký thường trú, tạm trú hoặc thực tế cư trú”.

Căn cứ công Văn số 983/CAQ4 (QLHC) ngày 29/3/2021 của Công an Quận T có nội dung: “Bà Nguyễn Thị Ái N, sinh năm 1958 trước có tên trong tờ khai gia đình năm 1967 và giấy chứng nhận đăng ký nhân khẩu thường trú trong hộ tại số nhà 8 ngõ 129-23A/8 Đường B, Phường B, Quận T. Ngày 07/4/1981 bị xóa tên bỏ nhà đi vắng từ tháng 12/1980 có đơn gia đình xin cắt hộ khẩu, ngoài ra không có thông tin thể hiện gì thêm”.

Như vậy, có cơ sở xác định nơi cư trú cuối cùng của bà N trước khi biệt tích là 129/23A/8 Đường B, Phường B (nay là Phường C), Quận T và ngày có tin tức cuối cùng của bà N là ngày 07/4/1981 (ngày Công an Quận T xóa hộ khẩu của bà N).

Ngày 17/11/2020, Tòa án nhân dân Quận T đã ban hành Quyết định thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết đối với bà Nguyễn Thị Ái N và đã thực hiện việc đăng tin trên báo Lao động, Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân Thành phố H, Cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân Thành phố H và phát sóng trên Đài tiếng nói Việt Nam (cơ quan thường trú tại Thành phố H). Tuy nhiên, đã hết thời hạn 04 tháng thực hiện thông báo nhưng vẫn không có tin tức xác thực bà N là còn sống.

Căn cứ vào Điểm d Khoản 1 Điều 71 của Bộ luật dân sự thì người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong trường hợp người đó đã biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống. Do đó, việc ông V yêu cầu tuyên bố bà Nguyễn Thị Ái N đã chết là có căn cứ nên Tòa án chấp nhận. Ngày chết của bà N được xác định là ngày 08/4/1987.

Về lệ phí: Căn cứ vào Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông Nguyễn Tất V được miễn nộp lệ phí sơ thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Khoản 4 Điều 27, Điểm a Khoản 2 Điều 35, Điểm b Khoản 2 Điều 39, Điều 149, 361, Điều 367, Điều 371, Điều 372, Khoản 2 Điều 388 và Điều 393 Bộ luật tố tụng dân sự có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2016;

- Căn cứ vào Điểm d Khoản 1 Điều 71 và Điều 72 Bộ luật dân sự có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2017;

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Nguyễn Tất V:

Tuyên bố bà Nguyễn Thị Ái N, sinh năm 1958, nơi cư trú cuối cùng: 129/23A/8 Đường B, Phường B (nay là Phường C), Quận T, Thành phố H là đã chết.

Ngày chết của bà Nguyễn Thị Ái N là ngày 08/4/1987.

Khi quyết định của Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị Ái N là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của bà N được giải quyết như đối với người đã chết. Quan hệ tài sản của bà N được giải quyết như đối với người đã chết; Tài sản của bà N được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Tất V được miễn nộp toàn bộ.

3. Đương sự có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 (mười) ngày tính từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết; Viện kiểm sát có quyền kháng nghị quyết định theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ