vanban.org

Quyết định 62/2020/QĐST-KDTM — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thoả thuận của các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Bưu điện L. Địa chỉ: Tòa nhà Capital Tower, Trần Hưng Đ, phường C, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Tranh chấp HĐTD giữa Ngân hàng TMCP Bưu điện L- ông Nguyễn Văn C"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thoả thuận của các đương sự:
  • Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠCH THẤT, TP. HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 62/2020/QĐST-KDTM

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ vào Điều 212, Điều 213 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào biên bản hòa giải thành ngày 22 tháng 10 năm 2020 về việc các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số: 87/2020/TLST-KDTM ngày 02 tháng 10 năm 2020.

XÉT THẤY

Các thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản hoà giải thành ngày 22 tháng 10 năm 2020 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Bưu điện L.

Địa chỉ: Tòa nhà Capital Tower, Trần Hưng Đ, phường C, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Doãn S- Tổng giám đốc.

Người được ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Phan Văn Ch, ông Đinh Khắc N- Cán bộ Ngân hàng TMCP Bưu điện L- Chi nhánh Đ- PGD H.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C- sinh năm 1980 và chị Nguyễn Thị S- sinh năm 1985.

Cùng địa chỉ: Thôn G, xã H, huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Văn T- sinh năm 1941, bà Phan Thị B- sinh năm 1941, cháu Nguyễn Thị Khánh L- sinh ngày 09/4/2004, cháu Nguyễn Văn C1- sinh ngày 06/5/2006, cháu Nguyễn Thị Uyên Nh- sinh ngày 06/01/2011, cháu Nguyễn Văn Trung K- sinh ngày 20/8/2012.

Cùng địa chỉ: Thôn G, xã H, huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của các cháu L, C1, Nh, K là anh Nguyễn Văn C- sinh năm 1980 và chị Nguyễn Thị S- sinh năm 1985 (Bố mẹ của các cháu).

Người đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Văn C, ông Nguyễn Văn T, bà Phan Thị B là chị Nguyễn Thị S.

2. Sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:

Đại diện Ngân hàng TMCP Bưu điện L là ông Phan Văn Ch cùng với chị Nguyễn Thị S thống nhất:

Tính đến ngày 22/10/2020, tổng số tiền gốc và tiền lãi vợ chồng anh C chị S còn nợ Ngân hàng TMCP Bưu điện L là: 740.798.423đ (Bảy trăm bốn mươi triệu bảy trăm chín mươi tám nghìn bốn trăm hai mươi ba đồng), trong đó tiền gốc là 549.968.246 đồng, lãi trong hạn là 5.690.208 đồng, lãi quá hạn là 185.139.969 đồng.

Chị Nguyễn Thị S đồng ý để chị Nguyễn Thị S và anh Nguyễn Văn C trả nợ Ngân hàng TMCP Bưu điện L toàn bộ số tiền gốc, tiền lãi là 740.798.423đ (Bảy trăm bốn mươi triệu bảy trăm chín mươi tám nghìn bốn trăm hai mươi ba đồng) và tiếp tục chịu tiền lãi quá hạn phát sinh đối với số nợ gốc theo mức lãi suất quá hạn thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký giữa anh C chị S với Ngân hàng kể từ ngày 23/10/2020 cho đến khi trả hết nợ gốc. (Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay).

Trường hợp anh C và chị S không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP Bưu điện L được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm cho khoản vay để xử lý thu hồi nợ.

Tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trên thửa đất số 101, tờ bản đồ số 05, diện tích 80,8m2; địa chỉ thửa đất: thôn G, xã H, huyện Thạch Thất, Hà Nội, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 833483, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H.00401/QSDĐ/898/QĐ-UB ngày 18/6/2007 của UBND huyện Thạch Thất cấp cho ông Nguyễn Văn T và bà Phan Thị B. Ngày 11/11/2011 Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Thạch Thất đăng ký sang tên ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị S do nhận cho tặng quyền sử dụng đất theo hợp đồng số 34 ngày 02/11/2011. Việc thế chấp được thực hiện theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng 2298/2014/HĐTC ngày 22/9/2014 tại Văn phòng công chứng Thạch Thất. Đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Thạch Thất ngày 22/9/2014.

Trường hợp tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì anh C và chị S phải có nghĩa vụ trả hết nợ cho Ngân hàng.

Về án phí: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị S và anh Nguyễn Văn C chịu toàn bộ tiền án phí thỏa thuận là 16.815.000đ (Mười sáu triệu tám trăm mười lăm nghìn đồng). Hoàn trả Ngân hàng Thương mại cổ phần Bưu điện L số tiền tạm ứng án phí 14.815.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0011613 ngày 01/10/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

4. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ