vanban.org

Quyết định 62/2020/QĐ-PT

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 04/03/2020 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 04/03/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/Hủy bản án hành chính sơ thẩm số 14/2013/HC-ST ngày 17/10/2013

của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long và đình chỉ giải quyết vụ án hành chính phúc thẩm thụ lý số 291/2013/TLPT-HC ngày 04/12/2013 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, giữa các đương sự: Người khởi kiện: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Bà Thái Thị L kiện UBND tỉnh Vĩnh Long khiếu kiện quyết định hành chính"
  • Tòa quyết gì? 1/Hủy bản án hành chính sơ thẩm số 14/2013/HC-ST ngày 17/10/2013
  • Căn cứ chính? Điều 234 Luật tố tụng Hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 62/2020/QĐ-PTThành phố Hồ Chí Minh, ngày 04 tháng 03 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

HUỶ BẢN ÁN SƠ THẨM VÀ ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Phan Thanh Tùng

Các Thẩm phán:

Ông Trần Văn Mười

Ông Nguyễn Đắc Minh

Sau khi xét xử sơ thẩm, bản án hành chính sơ thẩm số 14/2013/HC-ST

ngày 17/10/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long bị kháng cáo như sau:

-Vào ngày 17/10/2013, bà Thái Thị L là người khởi kiện, có đơn kháng

cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết cụ thể như sau: (1)hủy một phần quyết định số 908/QĐ-UBND ngày 09/04/2004 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long (hủy phần quyết định thu hồi phần đất của bà Thái Thị L, diện tích 862,2m2, để xây dựng khu 4 tuyến công nghiệp Cổ Chiên); (2)hủy quyết định số 3565/QĐ-UB ngày 16/10/2003 của Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long về việc phê duyệt phương án đền bù, giải phóng mặt bằng xây dựng khu 4, tuyến công nghiệp Cổ Chiên.

XÉT THẤY:

Trong quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm, vào ngày

10/01/2020, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh nhận được đơn xin rút lại đơn khởi kiện và rút lại yêu cầu kháng cáo của bà Thái Thị L gửi theo đường bưu điện (đơn ghi ngày 08/01/2020), nhưng không kèm theo bằng chứng xác thực.

Tòa án cấp phúc thẩm mở phiên tòa phúc thẩm vào ngày 04/03/2020. Tại

phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện là bà Thái Thị L có mặt, xác định việc rút đơn khởi kiện và rút yêu cầu kháng cáo của đương sự theo đơn ghi ngày 08/01/2020, là tự nguyện. Về thủ tục tố tụng Hành chính, trong trường hợp người khởi kiện (đồng thời là người kháng cáo) vừa rút đơn khởi kiện, vừa rút kháng cáo, thì vụ án sẽ được xem xét theo yêu cầu rút đơn khởi kiện của người khởi kiện (bởi vì yêu cầu này sẽ dẫn đến việc đình chỉ giải quyết toàn bộ vụ án).

Tòa án cấp phúc thẩm đã ra văn bản số 380/2020/CV-TACC ngày

24/02/2020 hỏi ý kiến của Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long về việc bà Thái Thị L rút đơn khởi kiện và rút yêu cầu kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người bị kiện là Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh

Long vắng mặt do đương sự có văn bản ghi ngày 07/01/2020 yêu cầu được vắng mặt khi Tòa án xét xử vụ án; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long có mặt.

Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long cũng có văn bản số 825/UBND-NC

ngày 28/02/2020 đồng ý với việc rút đơn khởi kiện và rút kháng cáo của bà Thái Thị L.

Sự việc rút đơn khởi kiện của bà Thái Thị L và việc Ủy ban nhân dân tỉnh

Vĩnh Long đồng ý chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của bà Thái Thị L, là tự nguyện, không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

Như vậy, Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình

chỉ giải quyết vụ án nói trên.

Về án phí của vụ án:

Tại thời điểm bà Thái Thị L khởi kiện vụ án (năm 2011) và kháng cáo bản

án sơ thẩm (năm 2013), án phí hành chính sơ thẩm và án phí hành chính phúc thẩm được quy định tại Pháp lệnh về Án phí, Lệ phí Tòa án năm 2009, đều là 200.000 đồng; đương sự đã nộp tạm ứng theo luật định.

Sau khi có kháng cáo của bà Thái Thị L, Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý vụ

án để xét xử theo thủ tục phúc thẩm vào tháng 12/2013. Tại thời điểm này, Pháp lệnh về Án phí, Lệ phí Tòa án năm 2009 vẫn đang có hiệu lực.

Theo Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của

Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu mới về Án phí, Lệ phí Tòa án, đối với những vụ án đã thụ lý trước ngày 01/01/2017 nhưng đến sau ngày 01/01/2017 mới giải quyết theo thủ tục phúc thẩm thì các quyết định về Án phí, Lệ phí Tòa án được thực hiện theo Pháp lệnh về Án phí, Lệ phí Tòa án năm 2009.

Như vậy, trong vụ án này, bà Thái Thị L sẽ phải chịu toàn bộ án phí hành

chính sơ thẩm theo bản án sơ thẩm đã tuyên và phải chịu ½ án phí hành chính phúc thẩm; mức thu án phí được thực hiện theo Pháp lệnh về Án phí, Lệ phí Tòa án năm 2009.

Căn cứ Điều 234 của Luật tố tụng Hành chính năm 2015;

QUYẾT ĐỊNH:

1/Hủy bản án hành chính sơ thẩm số 14/2013/HC-ST ngày 17/10/2013

của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long và đình chỉ giải quyết vụ án hành chính phúc thẩm thụ lý số 291/2013/TLPT-HC ngày 04/12/2013 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, giữa các đương sự:

Người khởi kiện:

Bà Thái Thị L, sinh năm sinh năm 1967;

Địa chỉ: 10/5 ấp Sơn Đông, xã Thanh Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh

Long.

Người bị kiện:

Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long;

Địa chỉ: 88 Hoàng Thái Hiếu, Phường 1, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh

Long.

2/Về án phí:

2.1/Án phí hành chính sơ thẩm: bà Thái Thị L phải chịu 200.000 đồng

nhưng được trừ vào số tiền đã nộp là 200.000 đồng theo biên lai số 002879 ngày 02/12/2011 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Vĩnh Long; đương sự đã nộp đủ án phí hành chính sơ thẩm;

2.2/Án phí hành chính phúc thẩm: bà Thái Thị L phải chịu 100.000 đồng

nhưng được trừ vào số tiền đã nộp là 200.000 đồng theo biên lai số 014038 ngày 18/10/2013 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Vĩnh Long; trả lại cho bà Thái Thị L số tiền chênh lệch là 100.000 đồng.

Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ