vanban.org

Quyết định 613/2023/QĐ-PT

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 31/07/2023 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 31/07/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số

330/2023/QĐST-HC ngày 21 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Về án phí hành chính phúc thẩm: Công ty Cổ phần H phải chịu 300.000 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Cty H kiện UBND TPHCM Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai"
  • Tòa quyết gì? Giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số
  • Căn cứ chính? Điều 143 Luật tố tụng hành chính; Điều 144 Luật tố tụng hành chính; Điều 243 Luật tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 613/2023/QĐ-PTThành phố Hồ Chí Minh, ngày 31 tháng 7 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Dương Tuấn Vinh;

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Đắc Minh;

Bà Nguyễn Thị Thụy Vũ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham

gia phiên họp: Ông Nguyễn Khánh Toàn - Kiểm sát viên.

Tại quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số

330/2023/QĐST-HC ngày 21 tháng 3 năm 2023;

Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ vào điểm g khoản 1

Điều 143; Điều 144 của Luật tố tụng hành chính năm 2015 quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” giữa:

- Người khởi kiện: Công ty Cổ phần H;

Địa chỉ: Số C T, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân Thành phố H;

Địa chỉ: H L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại đơn kháng cáo ngày 18 tháng 4 năm 2023 của người khởi kiện là Công

ty Cổ phần H yêu cầu hủy quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 330/2023/QĐST-HC ngày 21 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

XÉT THẤY:

Theo đơn khởi kiện ngày 07/10/2022, gửi ngày 25/11/2022 và gửi ngày

21/12/2022, Công ty Cổ phần H khởi kiện yêu cầu hủy một phần quyết định 6616/QĐ-UBND ngày 09/12/2015 của Ủy ban nhân dân Thành phố H về việc chấp thuận cho Công ty Cổ phần H sử dụng đất tại số E đường T, phường S, quận T (gọi tắt là Quyết định 6616). Trong đơn khởi kiện, Công ty Cổ phần H trình bày có nhận Quyết định 6616 vào ngày 09/12/2016;

Sau đó, Tòa án có Thông báo 1820/TB-TA ngày 02/11/2022, yêu cầu Công

ty Cổ phần H sửa chữa, bổ sung đơn khởi kiện;

Theo đơn khởi kiện ngày 24/11/2022 và đơn khởi kiện bổ sung ngày

21/12/2022, Công ty Cổ phần H trình bày có nhận Quyết định 6616 vào ngày 09/12/2015 (cùng ngày ban hành quyết định).

Xét quá trình khiếu nại của Công ty Cổ phần H như sau:

Trước khi khởi kiện, Công ty Cổ phần H đã gửi đơn khiếu nại có cùng một

nội dung: “Ủy ban giao đất 3.248m2 cho công ty dưới hình thức trả tiền thuê đất hàng năm, là không hợp lý”.

Đơn khiếu nại đề ngày 06/01/2017, không có chứng cứ chứng minh về việc

có gửi đơn khiếu nại.

Đơn khiếu nại đề ngày 28/10/2019, có biên nhận nhận đơn vào ngày

29/10/2019 (Phiếu chuyển 10132/VP-ĐT ngày 30/10/2019 Ủy ban nhân dân Thành phố H chuyển cho Sở T xử lý theo đơn này).

Có cơ sở xác định đơn khiếu nại được thụ lý vào ngày 30/10/2019, các đơn

khiếu này sau (ghi ngày 26/10/2020, ngày 12/4/2022) có tính chất nhắc giải quyết khiếu nại.

[3] Tại khoản 3 Điều 116 Luật tố tụng hành chính năm 2015 quy định về

thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính như sau:

“3. Trường hợp đương sự khiếu nại theo đúng quy định của pháp luật đến

cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì thời hiệu khởi kiện được quy định như sau:

a) 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định giải quyết khiếu

nại lần đầu hoặc quyết định giải quyết khiếu nại lần hai;

b) 01 năm kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của

pháp luật mà cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền không giải quyết và không có văn bản trả lời cho người khiếu nại.”

Điều 9 Luật khiếu nại quy định về thời hiệu khiếu nại như sau:

Thời hiệu khiếu nại là 90 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành

chính hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính (ngày 09/12/2016).

Trường hợp người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo

đúng thời hiệu vì ốm đau, thiên tai, địch họa, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc vì những trở ngại khách quan khác thì thời gian có trở ngại đó không tính vào thời hiệu khiếu nại.

Điều 28 Luật khiếu nại quy định thời hạn giải quyết khiếu nại như sau:

Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý;

đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý.

Ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại không

quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý (ngày 30/10/2019).

Như vậy, ngày 07/10/2022 Công ty Cổ phần H có đơn khởi kiện vụ án

hành chính là đã quá thời hiệu khởi kiện.

Từ những phân tích trên, Hội đồng phúc thẩm xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm

đình chỉ giải quyết vụ án theo điểm g khoản 1 Điều 143 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Căn cứ vào Điều 243 của Luật tố tụng hành chính năm 2015,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số

330/2023/QĐST-HC ngày 21 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Về án phí hành chính phúc thẩm: Công ty Cổ phần H phải chịu 300.000

đồng; được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng Công ty Cổ phần H đã nộp theo biên lai số AA/2021/0004724 ngày 24/5/2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh; Công ty Cổ phần H đã nộp đủ án phí phúc thẩm. 3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ