vanban.org

Quyết định 612/2023/QĐ-PT

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 31/07/2023 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 31/07/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Thanh Q.

Giữ nguyên Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 30/2023/QĐST-HC ngày 06/4/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "NKK: Nguyễn Thanh Q - NBK: Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Thanh Q.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 141 Luật Tố tụng Hành chính; Điều 142 Luật Tố tụng Hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 612/2023/QĐ-PTThành phố Hồ Chí Minh, ngày 31 tháng 7 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH TẠM ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thúy Hòa

Các Thẩm phán:

Ông Lê Văn An

Bà Nguyễn Thị Cúc

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham

gia phiên họp: Ông Hà Văn Hừng - Kiểm sát viên.

Tại Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số

30/2023/QĐST-HC ngày 06/4/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã căn cứ vào Điều 141, Điều 142 và Điều 145 của Luật Tố tụng Hành chính quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về “Khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, giữa các đương sự:

1. Người khởi kiện: Ông Nguyễn Thanh Q, sinh năm 1971; Địa chỉ: Nhà A,

Khu B, Số E, đường số D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Người bị kiện: Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ; Địa chỉ: Số B, đường P,

phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn P - Phó Giám đốc Văn

phòng Đăng kí đất đai tỉnh Đ. (Theo Văn bản ủy quyền số 4091/VPĐK-TCHC ngày 20/5/2022).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện: Ông Đỗ Thanh

T - Viên chức Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ. (Văn bản số: 4135/VPĐK-TCHC ngày 21/5/2022).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Văn phòng đăng kí đất đai tỉnh Đ

- Chi nhánh N2; Địa chỉ: Số C đường N, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

Ngày 17/4/2023, người khởi kiện ông Nguyễn Thanh Q kháng cáo với lý do:

Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai không đúng quy định của pháp luật, không phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án gây thiệt hại quyền lợi cho người khởi kiện. Đề nghị cấp phúc thẩm hủy quyết định trên để Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai để tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

XÉT THẤY:

. Tại Đơn khởi kiện, ông Nguyễn Thanh Q yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh

Đồng Nai giải quyết: tuyên hành vi Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ không thực hiện việc đăng ký biến động do bà Vũ Thị P1 tặng cho ông Nguyễn Thanh Q là trái quy định của pháp luật, đối với các thửa đất:

1. Thửa đất số 183, tờ bản đồ số 39 có Giấy chứng nhận số CS 354685 do

UBND huyện N cấp ngày 05/3/2012 cho ông Nguyễn Văn L, cập nhật biến động chuyển nhượng cho bà Vũ Thị P1.

2. Thửa đất số 182, tờ bản đồ số 01 có Giấy chứng nhận số BI 339324 do

UBND huyện N cấp ngày 05/3/2012 cho bà Trang Thị N, cập nhật biến động chuyển nhượng cho bà Vũ Thị P1.

3. Thửa đất số 175, tờ bản đồ số 01 có Giấy chứng nhận số BI 339322 do

UBND huyện N cấp ngày 05/3/2012 cho bà Trang Thị N, cập nhật biến động chuyển nhượng cho bà Vũ Thị P1.

4. Thửa đất số 94, tờ bản đồ số 10 có Giấy chứng nhận số CI 644140 do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 16/9/2017 cho ông Phạm Văn B, cập nhật biến động chuyển nhượng cho bà Vũ Thị P1.

5. Thửa đất số 01, tờ bản đồ số 10 có Giấy chứng nhận số CI 837381 do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 20/7/2017 cho ông Phạm Văn H, cập nhật biến động chuyển nhượng cho bà Vũ Thị P1.

6. Thửa đất số 83, tờ bản đồ số 10 có Giấy chứng nhận số CA 287375 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 05/6/2015 cho bà Võ Thị N1, cập nhật biến động chuyển nhượng cho bà Vũ Thị P1.

7. Thửa đất số 464, tờ bản đồ số 10 có Giấy chứng nhận số CĐ 591019 do

Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 22/8/2016 cho ông Trần Đình P2, cập nhật biến động chuyển nhượng cho bà Vũ Thị P1.

8. Thửa đất số 172, tờ bản đồ số 10 có Giấy chứng nhận số CI 644139 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 16/9/2017 cho ông Phạm Văn B, cập nhật biến động chuyển nhượng cho bà Vũ Thị P1.

Đồng thời, ông Q yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai buộc Văn phòng

đăng ký đất đai tỉnh Đ nhận hồ sơ, gửi hồ sơ đến cơ quan thuế để xác định và thông báo nghĩa vụ tài chính theo quy định; thực hiện việc chỉnh lý, cập nhật biến động vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai và trao lại Giấy chứng nhận cho người sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

. Ngày 21/3/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai có văn bản số 213/TA

về việc yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện N cung cấp thông tin về việc thu hồi các thửa đất trên. Đến ngày 27/3/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiếp tục có văn bản số 364/TA-HCST gửi Ủy ban nhân dân huyện N về việc nhắc cung cấp thông tin thu hồi đất.

. Do cần đợi kết quả cung cấp tài liệu chứng cứ của Ủy ban nhân dân

huyện N, nên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai ra Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 30/2023/QĐST-HC ngày 06/4/2023.

. Sau khi nhận được văn bản phúc đáp của Ủy ban nhân dân huyện N,

ngày 19/4/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai ra Quyết định số 179/2023/QĐST-HC tiếp tục giải quyết vụ án hành chính nêu trên; đồng thời, ra Thông báo số 181/TB-TA về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại.

Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã tiếp tục đưa vụ án ra xét xử, nên không có

căn cứ chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện Nguyễn Thanh Q.

. Về án phí hành chính phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn

Thanh Q không được chấp nhận, nên ông Nguyễn Thanh Q phải chịu án phí hành chính phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ Điều 243 của Luật Tố tụng hành chính,

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Thanh Q.

2. Giữ nguyên Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm

số 30/2023/QĐST-HC ngày 06/4/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí hành chính phúc thẩm:

Buộc ông Nguyễn Thanh Q phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 000790 ngày 28/4/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai. (Ông Q đã nộp đủ án phí phúc thẩm).

4. Quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG

Cỡ chữ