vanban.org

Quyết định 61/QĐ-TA

TAND Quận 4, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 01/03/2024 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Ủy ban nhân dân thành phố H thành lập đối với bà Lê Thị Mộng T1.

Cơ sở tiếp nhận ban đầu là: Cơ sở cai nghiện ma túy P. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày bà Lê Thị Mộng T1 bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc là ngày 28/12/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "XLHC"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Ủy ban nhân dân thành phố H thành lập đối với bà Lê Thị Mộng T1.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số: 61/QĐ-TA
Quận 4, ngày 01 tháng 3 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 – TP. HỒ CHÍ MINH

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Phương T

2. Thư ký phiên họp: Ông Tạ Mạnh Hùng

Ngày 01 tháng 3 năm 2024, tại Cơ sở cai nghiện ma túy T, Tòa án nhân dân Quận 4 – TP . tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 82/2024/QĐ – TA ngày 23 tháng 02 năm 2024, đối với:

Lê Thị Mộng T1 (Tên gọi khác: M) Giới tính: Nữ

Sinh ngày: 02/11/1999

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Không

Trình độ văn hóa: 9/12

Nghề nghiệp: Không.

Nơi đăng ký thường trú: Bà Lê Thị Mộng T1 khai có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ: Số A Ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre; qua xác minh, bà T1 có đăng ký hộ khẩu thường trú nhưng hiện nay không thực tế cư trú tại địa chỉ trên. Hiện nay đang ở tại địa chỉ: 3 Đường số D, phường T, thành phố T, TP ..

Nơi đăng ký tạm trú: Bà T1 khai chỗ ở hiện nay tại địa chỉ 3 Đường số D phường T, thành phố T; qua xác minh, bà T1 không đăng ký tạm trú, hiện nay không thực tế cư trú tại địa chỉ trên.

Nơi đăng ký tạm trú: Bà T1 khai chỗ ở hiện nay tại địa chỉ số: 88 L, Tổ A, Khu phố D, phường T, Quận G, TP .; qua xác minh, bà T1 không đăng ký tạm trú, hiện nay không thực tế cư trú tại địa chỉ trên.

Nơi đăng ký thường trú: Bà T1 khai có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ: Số B Đường số A, Phường D, Quận D, TP .; qua xác minh, bà T1 không đăng ký tạm trú, hiện nay không thực tế cư trú tại địa chỉ trên.

Tình trạng cư trú: Không nơi ở nhất định.

Con ông Lê Trúc P và bà Nguyễn Thị Mỹ P1.

Tiền án: 00; Tiền sự: 00.

Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Nguyễn Thị Thanh H – Chuyên viên Phòng L1.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4: Bà Phạm Thị Lý – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Vào lúc 02 giờ 45 phút ngày 28/12/2023, Công an P2, Quận D tuần tra địa bàn khi đến địa chỉ: Số B Đường A Phường D, Quận D thì phát hiện bà Lê Thị Mộng T1 có biểu hiện nghi vấn sử dụng ma túy nên mời về trụ sở làm việc và thử test nhanh ma túy; kết quả cho thấy bà T1 sử dụng trái phép ma túy. Loại ma túy sử dụng: Ma tuý tổng hợp (hàng đá).

Căn cứ Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy ngày 28/12/2023 của Trạm y tế Phường 4, Quận D thì Lê Thị Mộng T1 dương tính với ma túy tổng hợp loại Methamphetamin và Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 01/01/2024 của Cơ sở cai nghiện ma túy Thanh Thiếu N 2 kết luận như sau: Lê Thị Mộng T1 nghiện ma túy loại MET (Methamphetamine)

Tại Văn bản số 104/ĐN – CNBB ngày 19/02/2024 của Phòng L1 đề nghị Tòa án nhân dân Quận 4 xem xét áp dụng biện pháp đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Cơ sở cai nghiện ma túy P đối với Lê Thị Mộng T1 là người nghiện ma túy, L ma túy sử dụng: Ma tuý tổng hợp (hàng đá); hình thức sử dụng: Hút; thời điểm sử dụng ma túy lần đầu: Năm 2023.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 phát biểu: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ việc từ khi thụ lý đến thời điểm này thấy rằng Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định tại Điều 3, Điều 8, Điều 10, Điều 13, Điều 15, Điều 17, Điều 18, Điều 21 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân năm 2022 (Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2022). Cụ thể như sau:

1. Việc tuân theo pháp luật của Tòa án:

- Đã thực hiện đúng quy định về thời hạn xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Điều 8 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15.

- Đã tiến hành thụ lý vụ việc đúng thời hạn theo quy định tại Điều 12, thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân về việc thụ lý vụ việc đúng quy định Pháp lệnh 03/2022/UBTVQH15.

- Thực hiện phân công Thẩm phán xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn theo quy định tại Điều 10 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15.

- Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đúng theo quy định tại Điều 13 Pháp lệnh 03/2022/UBTVQH15.

- Tòa án gửi quyết định mở phiên họp cho Viện kiểm sát và những người tham gia phiên họp đúng thời hạn theo quy định tại khoản 4 Điều 13, Điều 17 Pháp lệnh 03/2022/UBTVQH15.

- Triệu tập thành phần tham gia phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định tại Điều 18 Pháp lệnh 03/2022/UBTVQH15.

- Thực hiện đúng trình tự, thủ tục tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định tại Điều 21 Pháp lệnh 03/2022/UBTVQH15.

2. Quan điểm của Kiểm sát viên về việc đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Căn cứ Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020; căn cứ Điều 32 Luật Phòng chống ma túy số 73/2021/QH14 ngày 30/3/2021; Điều 16 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022; Nghị định 116/2021/ NĐ – CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện. Đề nghị Tòa án nhân dân Quận 4 giải quyết theo hướng đồng ý đề nghị của Phòng L1 để áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Ủy ban nhân dân thành phố H thành lập đối với Lê Thị Mộng T1 với thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mười hai) tháng.

XÉT THẤY:

Qua nghiên cứu hồ sơ thấy rằng: Về trình tự thủ tục, cơ quan đề nghị đã thực hiện đúng quy định tại Điều 95, 96; điểm b khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi bổ sung năm 2020; Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội; Nghị định số 116/2021/NĐ – CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ, có đủ cơ sở để xác định Lê Thị Mộng T1 là đối tượng nghiện ma túy, thời gian nghiện lần đầu từ năm 2023. Do đó, xét thấy cần phải đưa đối tượng Lê Thị Mộng T1 vào cơ sở cai nghiện bắt buộc một thời gian nhất định để chữa bệnh, phục hồi sức khỏe. Về nhân thân Lê Thị Mộng T1 chưa có tiền án, tiền sự; nhưng là đối tượng nghiện ma túy nên cần phải tạo điều kiện cho đối tượng cai nghiện được ma túy, tái hòa nhập cộng đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Ủy ban nhân dân thành phố H thành lập đối với bà Lê Thị Mộng T1.

Cơ sở tiếp nhận ban đầu là: Cơ sở cai nghiện ma túy P.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày bà Lê Thị Mộng T1 bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc là ngày 28/12/2023.

Trong thời gian cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan biết.

3. Người bị áp dụng có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày, kể từ ngày nhận quyết định này của Tòa án. Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Phòng L1; Cơ sở cai nghiện ma túy Thanh Thiếu Niên 2; Cơ sở cai nghiện ma túy P3; Công an P2; Công an P2, Quận D; Ủy ban nhân dân Phường D, Quận D; các cơ quan, tổ chức có liên quan và bà Lê Thị Mộng T1 có trách nhiệm thi hành Quyết định này.

Cỡ chữ