vanban.org

Quyết định 61/2025/HSST-QĐ — Hình sự

TAND TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 13/06/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Trả hồ sơ vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 181/2025/TLST-HS ngày 16

tháng 5 năm 2025 đối với các bị can: Phan Văn Đ, sinh ngày 22/6/2007 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn Đ và đồng phạm bị truy tố về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 (viện dẫn điểm a, c, i khoản 1) Điều 134 Bộ luậ…"
  • Tòa quyết gì? Trả hồ sơ vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 181/2025/TLST-HS ngày 16
  • Căn cứ chính? Điều 277 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 280 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 45 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NHA TRANG
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 61/2025/HSST-QĐNha Trang, ngày 13 tháng 6 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

Căn cứ các Điều 45, 277 và 280 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:

181/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2025;

Xét thấy: Cần thu thập những tài liệu, chứng cứ mà không thể bổ sung,

làm rõ ngay tại phiên tòa nên cần trả hồ sơ điều tra bổ sung theo quy định tại

khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

QUYẾT ĐỊNH:

Trả hồ sơ vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 181/2025/TLST-HS ngày 16

tháng 5 năm 2025 đối với các bị can:

1. Phan Văn Đ, sinh ngày 22/6/2007

Nơi cư trú: Thôn P, xã P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

2. Nguyễn Văn T, sinh ngày 23/9/2007

Nơi cư trú: Thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa.

3. Huỳnh Ngọc Thái S, sinh ngày 28/11/2007

Nơi cư trú: Thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa.

4. Nguyễn Khắc H, sinh ngày 27/7/2005

Nơi cư trú: Thôn P, xã P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

5. Nguyễn Hữu L, sinh ngày 04/5/2007

Nơi cư trú: 1 L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

6. Nguyễn Văn T1, sinh ngày 13/9/2007

Nơi cư trú: Ô Lô A thôn T, xã P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

Các bị can bị truy tố về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ

khoản 2 (viện dẫn điểm a, c, i khoản 1) Điều 134 Bộ luật Hình sự và tội “Gây rối

trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

Để điều tra bổ sung những vấn đề sau đây:

1. Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số

154/24/KLTTCT-PYKH ngày 16/4/2024 của Trung tâm P – Sở Y thương tích

của bị hại Đào Huỳnh Khang H1: vùng đỉnh chẩm có 02 vết sẹo, vùng trên tai

trái có 01 vết seo, vùng hạ sườn phải có 01 vết sẹo, mu bàn tay trái có 01 vết

sẹo, ngón II bàn tay phải có 01 vết sẹo, ngón III bàn tay phải có 01 vết sẹo, gãy xương bàn II tay trái. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 15%, thương tích do ngoại lực, vật sắt tác động.

Đề nghị làm rõ cơ chế các vết thương trên có khả năng gây ra cái chết cho

bị hại nếu không cấp cứu kịp thời không?

2. Tại hồ sơ vụ án (các BL 84, 128, 164-165, 179-180, 217) thể hiện:

Nguyễn Văn T dùng dao cánh bướm chém vào vùng đầu, vùng tai của bị hại làm bị hại ngã xuống đất; Phan Văn Đ cầm cây phóng lợn đâm 2-3 phát vào vùng lưng bị hại làm gãy dao phóng lợn; Nguyễn Khắc H dùng dao chém vào đầu bị hại. Tiếp đó, Đ giật lấy dao của H tiếp tục chém vào vùng đầu bị hại; T tiếp tục dùng dao cánh bướm chém 2-3 phát vào vùng đầu nhưng do bị hại đưa tay lên đỡ nên trúng vào tay của bị hại; Huỳnh Ngọc Thái S cầm phóng lợn đâm nhiều nhát vào lưng bị hại làm gãy phóng lợn, sau đó tiếp tục dùng cây mác chém nhiều nhát vào người bị hại, ngoài ra, còn có khoảng 1 - 2 người khác dùng tay chân đánh bị hại. Đến khi thấy bị hại gục xuống đất, nhóm các bị can mới bỏ đi.

Việc T, Đ, H, S dùng dao cánh bướm, cây phóng lợn là hung khí nguy

hiểm, sắc nhọn chém, đâm liên tiếp với cường độ tấn công rất mạnh vào bị hại ở vị trí vùng đầu, vùng tai, vùng mạn sườn là nơi quan trọng trên cơ thể con người, có khả năng gây tử vong rất cao, với mục đích để cho bị hại không còn khả năng tấn công, chống trả lại; khi thực hiện hành vi các bị can ý thức, biết được hậu quả xảy ra sẽ gây thiệt hại đến tính mạng của bị hại; ngoài ra, sau khi gây thương tích cho bị hại thì các bị can bỏ đi, để mặc hậu quả xảy ra. Vì vậy, việc bị hại không chết là ngoài ý muốn chủ quan của các bị can và hành vi của các bị can trên có dấu hiệu của tội “Giết người” quy định tại Điều 123 Bộ luật hình sự và thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt.

Đề nghị điều tra làm rõ nội dung trên để xem xét, truy cứu trách nhiệm

hình sự theo quy định pháp luật, tránh bỏ lọt tội phạm. Quá trình điều tra nếu có đủ cơ sở xác định tội danh trên đề nghị chuyển hồ sơ vụ án cho cơ quan có thẩm quyền để giải quyết theo quy định.

3. Tại bút lục 19, bị hại H1 khai khi đến địa điểm hẹn nhìn thấy nhóm của

Minh H2 có khoảng 19 - 20 người, nhưng không xác định là ai. Tại bút lục các BL 84, 128, 164-165, 179-180, 217), các bị can đều khai nhóm của Đ chỉ bao gồm: Đ, T, H, S, L và 3-4 người khác”.

Lời khai giữa bị hại và các bị can có sự mâu thuẫn về số lượng người

người cùng các bị can tham gia đánh nhóm bị hại. Đề nghị đối chất lời khai giữa bị hại, bị can, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và trích xuất camera gần hiện trường vụ án để làm rõ về vấn đề trên để tránh bỏ lọt tội phạm.

4. Lấy lời khai của bị hại Đào Huỳnh Khang H1 đối với yêu cầu bồi

thường thiệt hại về phần dân sự cụ thể gồm những chi phí nào? Yêu cầu bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại cung cấp chứng cứ, chứng minh yêu cầu trên là có có sở.

5. Xác minh, lấy lời khai của chủ sở hữu phương tiện xe mô tô BKS

79N1-527.99 tại Phòng C - Công an tỉnh K?

THẨM PHÁN

Cỡ chữ