- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đinh Bạt K li hôn Trần Thị T"
- Tòa quyết gì? Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 61/2019/QĐST-HNGĐ | Nghi Lộc, ngày 08 tháng 4 năm 2019. |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN
Căn cứ các Điều 212, Điều 213 và khoản 4 Điều 397 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 55, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc dân sự thụ lý số 72/2019/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2019 về việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: anh Đinh Bạt K, sinh năm 1987 và chị Trần Thị T, sinh năm 1996; đều có cùng địa chỉ: xóm 9, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ hôn nhân: anh Đinh Bạt K và chị Trần Thị T lấy nhau có đăng ký kết hôn ngày 04 tháng 8 năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Như vậy, hôn nhân giữa anh K và chị T là hôn nhân hợp pháp.
Về tình trạng hôn nhân: anh Đinh Bạt K và chị Trần Thị T đều thừa nhận: sau ngày cưới, anh chị sống với nhau hạnh phúc được một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng trong quan điểm sống; vợ chồng không có tiếng nói chung nên dẫn đến thường xuyên xúc phạm lẫn nhau. Mặc dù đã được Hòa giải viên Trung tâm hòa giải, đối thoại tại Tòa án nhân dân huyện N hòa giải để vợ chồng quay về đoàn tụ nhưng anh và chị đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, không đồng ý đoàn tụ mà thuận tình ly hôn. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa anh K và chị T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc thuận tình ly hôn giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Vì vậy, căn cứ Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình, công nhận thuận tình ly hôn giữa anh K và chị T.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Đinh Thị Như Q sinh ngày 22/3/2016. Hai bên thỏa thuận giao con chung là cháu Đinh Thị Như Q cho chị Trần Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc; Anh Đinh Bạt K có nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Đinh Thị Như Q mỗi tháng 1.500.000 đồng. Thời gian đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con kể từ tháng 4 năm 2019 cho đến khi cháu trưởng thành 18 tuổi. Anh Đinh Bạt K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Xét, thỏa thuận của anh K và chị T hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy, căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
Về tài sản chung, nợ chung: anh Đinh Bạt K và chị Trần Thị T không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
Về lệ phí Tòa án: anh Đinh Bạt K và chị Trần Thị T thỏa thuận anh K chịu lệ phí việc dân sự sơ thẩm. Xét thỏa thuận đó hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Đã hết thời hạn 07 ngày kể từ ngày lập Biên bản thuận tình ly hôn, thỏa thuận việc nuôi con khi ly hôn, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Đinh Bạt K và chị Trần Thị T
- Về con chung: giao con chung là cháu Đinh Thị Như Q cho chị Trần Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc; Anh Đinh Bạt K có nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Đinh Thị Như Q mỗi tháng 1.500.000 đồng. Thời gian đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con kể từ tháng 4 năm 2019 cho đến khi cháu trưởng thành 18 tuổi. Anh Đinh Bạt K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Nếu anh K lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì chị T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung của anh K.
- Về tài sản chung, nợ chung: chị Trần Thị T và anh Đinh Bạt K không yêu cầu giải quyết.
- Về lệ phí: anh Đinh Bạt K chịu 300.000 đồng lệ phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005566 ngày 01 tháng 4 năm 2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Nghi Lộc; - Chi cục THADS huyện Nghi Lộc; - UBND xã N; - Những người yêu cầu; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Đinh Loan Hòa |