vanban.org

Quyết định 607/2019/QĐ-PT

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 29/08/2019 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/08/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của ông Phan Văn N. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 51/2018/QĐST-HC ngày 30 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Án phí hành chính phúc thẩm: Ông Phan Văn N phải chịu 300.000 đồng. Được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí kháng cáo đã nộp theo biên lai thu tiền số 0006017 ngày 08/01/2019 của Cục Thi hành án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Người khởi kiện: Ông Phan Văn N"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của ông Phan Văn N. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 51/2018/QĐST-HC ngày 30 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
  • Căn cứ chính? Điều 116 Luật Tố tụng hành chính; Điều 143 Luật Tố tụng hành chính; Điều 144 Luật Tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 607/2019/QĐ-PTThành phố Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 8 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Vũ Ngọc Huynh.

Các Thẩm phán:

Ông Phạm Trung Tuấn.

Ông Phan Đức Phương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên họp: Ông Trần Ngọc Đảm - Kiểm sát viên.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số

51/2018/QĐST-HC ngày 30 tháng 10 năm 2018, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã căn cứ vào Điều 3 Nghị quyết 56/2010/QH12 của Quốc hội; khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 01/2015/NQ-HĐTP ngày 15/01/2015 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; điểm a khoản 2 Điều 116, điểm g khoản 1 Điểu 143, Điều 144 của Luật Tố tụng hành chính quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về “Khởi kiện đối với hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân huyện X về thu hồi 40.000 m2 đất tại ấp Ph, xã H, huyện X, tỉnh B nhưng không ban hành quyết định thu hồi đất, không đền bù, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất cho gia đình ông N là trái pháp luật; Buộc Ủy ban nhân dân huyện X ban hành quyết định phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho gia đình ông N do Nhà nước thu hồi đất theo quy định của pháp luật; Buộc Ủy ban nhân dân huyện X ban hành Quyết định giao đất sản xuất cho gia đình ông N theo tinh thần giải quyết khiếu nại của Ủy ban nhân dân tỉnh B”, giữa:

- Người khởi kiện: Ông Phan Văn N, sinh năm 1965.

Địa chỉ: Thôn 7, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

Đại diện ủy quyền của ông N: Ông Huỳnh Ngọc Ph1, sinh năm 1981

Địa chỉ: Tổ 7, khu phố 1B, ấp H, xã P, huyện T, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện X.

Địa chỉ: Thị trấn Ph2, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ủy ban nhân dân tỉnh B.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Ủy ban nhân dân tỉnh B: Ông Phan Văn M- Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B.

2. Công ty Cổ phần Cao su Th.

Địa chỉ: 256 đường 27/4, phường Ph3, thành phố B1, tỉnh B.

3. Công ty Cổ phần nông nghiệp L.

Địa chỉ: Số 60B đường Ng, phường Đ, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 12 tháng 11 năm 2018, người khởi kiện là ông Phan Văn N kháng cáo Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 51/2018/QĐST-HC ngày 30 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu do hết thời hiệu khởi kiện là không đúng pháp luật.

XÉT THẤY:

Ngày 03/5/1994, Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có Quyết định số 777/QĐ-UBT về thu hồi 500 ha đất tại xã H, B1, huyện X giao cho Công ty Cao su Th.

Quá trình thực hiện Quyết định số 777/QĐ-UBT, các hộ dân xã H, Bầu Lâm (trong đó có hộ ông N) đã khiếu nại cho rằng Công ty Cao su Th và UBND huyện X đã thu hồi diện tích 103 ha đất (trong đó có đất của các hộ dân) nằm ngoài 500ha đất theo Quyết định số 777.

Ngày 23/5/21995, UBND tỉnh B có Quyết định 460/QĐ-UBT về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông N cùng các hộ dân nói trên.

Không đồng ý với Quyết định 460 nên ông N và các hộ dân tiếp tục khiếu nại.

Ngày 20/8/2001 UBND tỉnh B có Quyết định 6520/QĐ-UBT về việc “giải quyết vụ 85 hộ dân xã H, B1 khiếu nại việc Công ty cao su Th thu hồi 103 ha nằm ngoài diện tích 500ha theo Quyết định số 777/QĐ-UBT” với nội dung không chấp nhận khiếu nại của 85 hộ dân xã H, B1.

Ngày 18/10/2001, Thanh tra Nhà nước (Nay là Thanh tra Chính phủ) có

văn bản số 903/TTNN-XKT về việc “báo cáo giải quyết một số vụ khiếu nại – tố cáo của công dân trên địa bàn huyện X, tỉnh B có nội dung “Thanh tra Nhà nước nhận thấy việc giải quyết khiếu nại, tố cáo đã được Thường vụ Tỉnh ủy, UBND tỉnh và các ngành các cấp trong tỉnh quan tâm chỉ đạo, tổ chức thực hiện đúng phương pháp, phù hợp với chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước”.

Như vậy khiếu nại của ông Phan Văn N đã được cơ quan có thẩm quyền giải quyết xong nhưng đến ngày 07/02/2018 ông N mới có đơn khởi kiện hành vi hành chính của UBND huyện X.

Về nội dung kháng cáo ông N cho rằng đã khiếu nại liên tục nên không tính thời hiệu khởi kiện là không phù hợp với các quy định tại Điều 3 Nghị quyết 56/2010/QH12 của Quốc hội; quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 01/2015/NQ-HĐTP ngày 15/01/2015 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính 2015. Vì theo các quy định trên thì kể từ ngày LuậtTố tụng hành chính 2010 có hiệu lực pháp luật thì ông N phải khởi kiện trong khoảng thời gian từ 01/7/2011 đến ngày 01/7/2012 thì mới thụ lý xem xét giải quyết. Đến ngày 07/02/2018, ông N mới có đơn khởi kiện hành vi hành chính của UBND huyện X là hết thời hiệu khởi kiện theo quy định của pháp luật.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính với lý do hết thời hiệu khởi kiện là có căn cứ, đúng pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 243 của Luật Tố tụng hành chính;

1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Phan Văn N. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 51/2018/QĐST-HC ngày 30 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

2. Án phí hành chính phúc thẩm: Ông Phan Văn N phải chịu 300.000 đồng. Được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí kháng cáo đã nộp theo biên lai thu tiền số 0006017 ngày 08/01/2019 của Cục Thi hành án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM

Cỡ chữ