- Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Phạm Văn H-Trần Đức A"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ___________________ Số: 601/2017/QĐ-PT ! |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm"phán"–"Chủ"tọa"phiên"họp: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng
Các"thẩm"phán:"
"1. Ông Nguyễn Đình Đức"
2. Bà Đặng Huyền Phương
-"Thư!ký!Toà!án!ghi!biên!bản!phiên!họp: Bà Đỗ Từ Thanh Uyên – Thư
ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
-"Kiểm!sát!viên!Viện!kiểm!sát!nhân!dân!Thành!phố!Hồ!Chí!Minh! tham!
gia!phiên!họp: Ông Nguyễn Hữu Nghĩa – Kiểm sát viên.
Vào ngày 05 tháng 7 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ
Chí Minh đã mở phiên họp giải quyết vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số
185/2017/TLPT - DS ngày 22/5/2017, về việc: “Tranh chấp quyền sở hữu nhà”.
Theo Quyết định mở phiên họp xét Quyết định sơ thẩm bị kháng cáo số
1237/2017/QĐ-PT ngày 16 tháng 6 năm 2017.
1."Nguyên"đơn:"Ông Phạm Văn H, sinh năm 1972;
Địa chỉ: 485 đường H, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
2."Bị"đơn:"Ông Trần Đức A, sinh năm 1970;
Thường trú: 93/16 đường P, Khu phố B, phường A, quận B, Thành phố Hồ
Chí Minh.
Tạm trú: 244 đường B, Phường S, Quận K, Thành phố Hồ Chí Minh.
3."Người"có"quyền"lợi,"nghĩa"vụ"liên"quan:"
3.1 Bà Huỳnh Thị Minh M, sinh năm 1972;
Thường trú: 93/16 đường P, Khu phố B, phường A, quận B, Thành phố Hồ
Chí Minh.
Tạm trú: 244 đường B, Phường S, Quận K, Thành phố Hồ Chí Minh.
3.2 Bà Trần Thị Xuân T, sinh năm 1976;
- Trẻ Phạm Trần Khánh D, sinh năm 2008 có bà T là người đại diện theo
pháp luật.
3.3 Bà Phạm Thị N, sinh năm 1999;
Cùng địa chỉ: 381/33 đường P, Khu phố N, phường L, quận B, Thành phố
Hồ Chí Minh.
3.4 Ông Nguyễn Tích Đ, sinh năm 1954;
3.5 Bà Nguyễn Thị Ơ
Cùng địa chỉ: 108KC/27/1 đường H, phường I, quận T, Thành phố Hồ Chí
Minh.
3.6 Ông Thái Văn K, sinh năm 1968;
Địa chỉ: 363/38/45/21 Khu phố X, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí
Minh.
4."Người"kháng"cáo:"Ông Phạm Văn H – Nguyên đơn.
NHẬN THẤY:
Ngày 24/12/2016, Toà án nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh
thực hiện tống đạt trực tiếp cho nguyên đơn ông Phạm Văn H giấy triệu tập ông H đúng 09 giờ 00 ngày 23/01/2017 có mặt tại Toà án để bổ sung đơn khởi kiện.
Ngày 13/02/2017, Toà án tiếp tục tống đạt giấy triệu tập nguyên đơn
ông H đúng 08 giờ 00 ngày 01/3/2017 có mặt tại Toà án để bổ sung đơn khởi kiện. Tuy nhiên, tại thời điểm tống đạt ông H từ chối nhận giấy triệu trên nên Toà án đã lập biên bản về việc không thực hiện được việc tống đạt trực tiếp cho đương sự, có xác nhận của tổ trưởng tổ dân phố là ông Phan Văn U và Uỷ ban nhân dân phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Đồng thời Toà án tiến hành thủ tục niêm yết giấy triệu tập trên theo quy định pháp luật.
Ngày 13/3/2017, Tòa án nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh đã ban
hành Quyết định số 68/2017/QĐST-DS đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 328/2016/TLST-DS ngày 21/7/2016 về việc “Tranh chấp quyền sở hữu nhà”.
Ngày 03/4/2017, Tòa án tống đạt Quyết định trên cho nguyên đơn ông
Phạm Văn H. Tuy nhiên, tại thời điểm tống đạt ông H từ chối nhận quyết định nên Toà án lập biên bản về việc không thực hiện được việc tống đạt trực tiếp cho đương sự và tiến hành thủ tục niêm yết quyết định trên theo quy định của pháp luật.
Ngày 18/4/2017, ông Phạm Văn H kháng cáo Quyết định đình chỉ trên vì
cho rằng ngày 05/01/2017, Toà án nhân dân quận B có gửi giấy triệu tập lần 01 triệu tập ngày 23/01/2017, ông đã đến làm việc và trình bày đầy đủ hồ sơ. Nhưng lần triệu tập lần 02 ngày 01/3/2017 ông không nhận được giấy triệu tập nên không biết để có mặt tại Toà án làm việc. Do đó ông yêu cầu huỷ quyết định đình chỉ và yêu cầu Toà án nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục giải quyết vụ việc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Quá trình từ khi thụ lý đến khi mở phiên họp, Thẩm phán, Hội
đồng phúc thẩm đã thực hiện đầy đủ và đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thời hạn kháng cáo: Ngày 03/4/2017, Toà án nhân dân quận B đã tống
đạt Quyết định đình chỉ số 68/2017/QĐST-DS cho ông H. Tuy nhiên, ông H từ
chối nhận quyết định nên căn cứ vào Khoản 4 Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự
năm 2015, Toà án đã lập biên bản về việc ông H từ chối nhận, có xác nhận của
đại diện tổ dân phố ông Phan Văn U. Vào cùng ngày, Toà án tiến hành niêm yết
Quyết định đình chỉ trên theo đúng quy định của pháp luật. Ngày 20/4/2017, Toà
án nhận được đơn kháng cáo của ông Phạm Văn H. Căn cứ theo Khoản 2, Điều
273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì kháng cáo của ông H là đã quá thời hạn luật
định.
Về nội dung Viện kiểm sát đề nghị:
Ngày 23/12/2016, Toà án nhân dân quận B triệu tập ông H lúc 09 giờ 00
phút ngày 23/01/2017. Ngày 24/12/2016, Toà án tống đạt trực tiếp giấy triệu tập
trên cho ông H và ông H đã ký xác nhận vào biên bản tống đạt. Tuy nhiên,
không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh việc ông H đã có mặt tại Toà án vào
ngày 23/01/2017 để làm việc theo giấy triệu tập trên. Ngày 23/01/2017, Toà án
triệu tập ông H lúc 08 giờ 00 ngày 01/3/2017. Ngày 13/02/2017, Toà án tống đạt
giấy triệu tập trên cho ông H. Tuy nhiên, do ông H từ chối nhận văn bản nên
cùng ngày, Toà án lập biên bản tống đạt không thành, có xác nhận của đại diện
tổ dân phố ông Phan Văn U. Đồng thời Toà án cũng thực hiện thủ tục niêm yết
giấy triệu tập trên theo quy định của pháp luật. Như vậy, Toà án đã tống đạt hợp
lệ giấy triệu tập 02 lần cho nguyên đơn ông Phạm Văn H nhưng ông H đã vắng
mặt 02 mà không có đơn xin xét xử vắng mặt nên kháng cáo của ông H là không
có cơ sở để chấp nhận. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không chấp nhận kháng cáo
của nguyên đơn – ông Phạm Văn H.
XÉT THẤY:
Về hình thức: Ngày 03/4/2017, Tòa án nhân dân quận B, Thành phố Hồ
Chí Minh tống đạt Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số
68/2017/QĐST-DS ngày 13/3/2017 cho nguyên đơn là ông Phạm Văn H. Tuy
nhiên, tại thời điểm tống đạt ông H từ chối nhận quyết định nên Toà án lập biên
bản về việc không thực hiện được việc tống đạt trực tiếp cho đương sự và cùng
ngày 03/4/2017, Toà án tiến hành thủ tục niêm yết quyết định trên theo quy định
của pháp luật.
Ngày 18/4/2017, ông Phạm Văn H có đơn kháng cáo Quyết định đình chỉ
trên.
Căn cứ Khoản 2 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì thời hạn
kháng cáo đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Toà án cấp sơ
thẩm là 07 ngày kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định. Căn cứ
vào Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì thời hạn niêm yết công
khai văn bản tố tụng là 15 ngày kể từ ngày niêm yết. Như vậy, đơn kháng cáo
của ông Phạm Văn H là còn trong thời hạn luật định. Đại diện Viện kiểm sát
nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trình bày ý kiến cho rằng kháng cáo của ông H đã quá thời hạn luật định là không chính xác. Do đó, Hội đồng xét xử xét chấp nhận kháng cáo của ông H.
Về nội dung xét thấy:
Ngày 23/12/2016, Toà án nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh triệu
tập nguyên đơn ông Phạm Văn H lúc 09 giờ 00 phút ngày 23/01/2017 có mặt tại Toà án để bổ sung đơn khởi kiện. Ngày 24/12/2016, Toà án tống đạt trực tiếp giấy triệu tập trên cho ông H và ông H đã ký xác nhận vào biên bản tống đạt. Tuy nhiên, tại hồ sơ vụ án không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh việc ông H đã có mặt tại Toà án vào ngày 23/01/2017 để làm việc theo giấy triệu tập trên.
Ngày 23/01/2017, Toà án tiếp tục triệu tập ông H lúc 08 giờ 00 ngày
01/3/2017 có mặt tại Toà án để bổ sung đơn khởi kiện. Ngày 13/02/2017, Toà án tống đạt giấy triệu tập trên cho ông H. Tuy nhiên, tại thời điểm tống đạt ông H từ chối nhận văn bản nên Toà án lập biên bản về việc không thực hiện được việc tống đạt trực tiếp cho đương sự, có xác nhận của tổ trưởng tổ dân phố ông Phan Văn U và Uỷ ban nhân dân phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Đồng thời cùng ngày 13/02/2017, Toà án thực hiện thủ tục niêm yết giấy triệu tập trên theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào Khoản 4, Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì:
“Trường"hợp"người"được"cấp,"tống"đạt,"thông"báo"từ"chối"nhận"văn"bản"tố"tụng" thì"người"thực"hiện"việc"cấp,"tống"đạt,"thông"báo"phải"lập"biên"bản"trong"đó"nêu" rõ"lý"do"của"việc"từ"chối,"có"xác"nhận"của"đại"diện"tổ"dân"phố"hoặc"Công"an"xã," phường,"thị"trấn"về"việc"người"đó"từ"chối"nhận"văn"bản"tố"tụng."Biên"bản"phải" được"lưu"trong"hồ"sơ"vụ"án”."Căn cứ vào Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, trong trường hợp không thể tống đạt trực tiếp văn bản bố tụng theo Điều 177 của Bộ luật này thì Toà án tiến hành thủ tục niêm yết công khai. Như vậy, Toà án nhân dân quận B đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập các ngày 23/01/2017 và ngày 01/3/2017 cho nguyên đơn ông Phạm Văn H nhưng ông H đã vắng mặt trong cả 02 lần mà không có lý do chính đáng.
Ngày 13/3/2017, Tòa án nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh căn cứ
vào các Điều 48, Điều 217, Điều 218, Điều 219 và Khoản 2 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để ban hành Quyết định số 68/2017/QĐST-DS đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là phù hợp với quy định pháp luật.
Do đó, kháng cáo của nguyên đơn ông Phạm Văn H là không có cơ sở để
chấp nhận.
Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là có
cơ sở để chấp nhận.
Căn cứ điểm a Khoản 5 Điều 314 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, giữ
nguyên Quyết định đình chỉ số 68/2017/QĐST-DS ngày 13 tháng 3 năm 2017 của Tòa án nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông Phạm Văn H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của
pháp luật.
Bởi các lẽ trên;
Căn cứ Khoản 1 Điều 148, điểm a Khoản 5 Điều 314 của Bộ luật tố tụng
dân sự năm 2015;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Văn H.
- Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số
68/2017/QĐST-DS ngày 13 tháng 3 năm 2017 của Tòa án nhân dân quận B,
Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phạm Văn H phải chịu án phí dân sự
phúc thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Nhưng được trừ vào số tiền tạm
ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng ông H đã nộp theo biên lai số 0000034 ngày
20/4/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
3."Quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
Nơi!nhận:!
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- TAND Tối cao;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
- TAND Cấp cao tại TP.HCM;
- VKSND Cấp cao tại TP.HCM;
- VKSND TP.HCM;
- TAND quận B, TP.HCM;
- Chi cục THADS quận B, TP.HCM;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ (18) .!
Nguyễn Thị Thu Hằng