vanban.org

Quyết định 60/2025/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Võ Thị Mỹ N và ông Nguyễn Văn Đ.

Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau: Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Mỹ N và ông Nguyễn Văn Đ thuận tình ly hôn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Thị Mỹ Nương - Nguyễn Văn Đỏ"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Võ Thị Mỹ N và ông Nguyễn Văn Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 - VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 60/2025/QĐST-HNGĐVĩnh Long, ngày 13 tháng 8 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số: 537/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2024, giữa:

- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Mỹ N, sinh ngày 28/9/1983.

Nơi cư trú: Ấp Bình Huề 2, xã Đ, huyện B, tỉnh T (Nay là ấp Bình Huề 2, xã T, tỉnh V).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 12/3/1980.

Địa chỉ: Ấp Bình Huề 2, xã Đ, huyện B, tỉnh T (Nay là ấp Bình Huề 2, xã T, tỉnh V).

Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 55, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 05 tháng 8 năm 2025.

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự được ghi trong Biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 05 tháng 8 năm 2025 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Võ Thị Mỹ N và ông Nguyễn Văn Đ.

2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Mỹ N và ông Nguyễn Văn Đ thuận tình ly hôn.

- Về con chung: Có 02 con chung. Ông Nguyễn Văn Đ đồng ý để bà Võ Thị Mỹ N được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Nguyễn Thị Mỹ H, sinh ngày 17/12/2007 và sự thỏa thuận này phù hợp với nguyện vọng của cháu Mỹ Huyền trên 07 tuổi.

Ghi nhận sự tự nguyện của bà Võ Thị Mỹ N không yêu cầu ông Nguyễn Văn Đ cấp dưỡng nuôi con chung.

Riêng con chung Nguyễn Văn G, sinh ngày 30/8/2002 đã thành niên và có khả năng lao động nên không xét đến.

Ông Nguyễn Văn Đ không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Bà Võ Thị Mỹ N trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông Nguyễn Văn Đ trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 và Điều 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và quyết định việc cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà Võ Thị Mỹ N và ông Nguyễn Văn Đ tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét giải quyết.

- Về nợ chung: Các chủ nợ do bị đơn khai không có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết trong cùng vụ án và bà Võ Thị Mỹ N, ông Nguyễn Văn Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết phần nợ chung nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Bà Võ Thị Mỹ N tự nguyện chịu 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Võ Thị Mỹ N đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0004109 ngày 24 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến tre (Nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 8 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long). Vậy, bà Võ Thị Mỹ N được hoàn lại số tiền chênh lệch 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng).

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.

Cỡ chữ