- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Lê Vĩnh P và Lê Thị Ph"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Lê Vĩnh Ph.
- Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Số: 59/2021/QĐST-VDS | Củ Chi, ngày 04 tháng 02 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Phan Hùng Vương.
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Ngọc Thanh Thi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên họp: Ông Huỳnh Hải Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 02 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 354/2020/TLST-VDS ngày 01 tháng 9 năm 2020 về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 29/2021/QĐST-VDS ngày 25 tháng 01 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Lê Vĩnh Ph, sinh năm: 1963 (có mặt).
Địa chỉ: tổ 5, ấp C, xã T, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quA1: Bà Lê Thị Ph1, sinh năm: 1965 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: tổ 6, ấp T1, xã T3, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
- Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 25/8/2020 và tại phiên họp, người yêu cầu ông Lê Vĩnh Ph trình bày sự việc như sau:
Cha ông là ông Lê Văn Tr, sinh năm: 1935 (chết năm 1969), mẹ ông là bà Nguyễn Thị D, sinh năm: 1939 (chết ngày 31/3/2005). Cha mẹ ông có bốn người con gồm có: tôi Lê Vĩnh Ph, bà Lê Thị Ph1, sinh năm: 1965; địa chỉ tổ 6, ấp T1, xã T3, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh, ông Lê Văn A1, sinh năm: 1957 (chết năm 1979, liệt sĩ, chưa có vợ con) và bà Lê Thị Ng, sinh năm: 1970; địa chỉ: tổ 5, ấp C, xã T, huyện Củ Chi, thành phố Hoà Chí Minh. Năm 1999, Bà Lê Thị Ng vượt biên đi nước ngoài, từ đó gia đình ông không có tin tức gì của bà Ng nữa, sống chết không ai biết, bà Ng khi vượt biên chưa có chồng con cả. Khi mẹ ông còn sống thì bà có tạo lập được một phần đất và xây dựng một căn nhà trên đất, ôngvà bà sống chung nhà. Nay mẹ ông đã chết, nhà đã xuống cấp không
- 1 -
thể ở được nữa và ông không thể sửa chữa hay xin phép xây dựng mới gì được vì đất mẹ ông đứng tên, thời hạn quyền sử dụng đất cũng sắp hết do đó phải làm thủ tục kê khai di sản thừa kế. Theo quy định thì phải có mặt những người thừa kế thứ nhất của mẹ ông nhưng do bà Ng đã biệt tích từ năm 1999 đến nay.
Nay ông đề nghị Tòa án tuyên bố bà Ng là đã chết để giải quyết phân chia di sản thừa kế
Tại bản tự khai ngày 15/9/2020, bà Lê Thị Ph1 trình bày:
Bà là con của ông Lê Văn Tr, sinh năm: 1935 (chết năm 1969) và bà Nguyễn Thị D, sinh năm: 1939 (chết ngày 31/3/2005). Cha mẹ bà có bốn người con gồm có: Lê Vĩnh Ph, bà là Lê Thị Ph1, ông Lê Văn A1, sinh năm: 1957 (chết năm 1979, liệt sĩ, chưa có vợ con) và bà Lê Thị Ng, sinh năm: 1970; địa chỉ: tổ 5, ấp C, xã T, huyện Củ Chi, thành phố Hoà Chí Minh. Năm 1999, Bà Lê Thị Ng vượt biên đi nước ngoài, từ đó gia đình bà không có tin tức gì của bà Ng nữa, sống chết không ai biết, bà Ng khi vượt biên chưa có chồng con cả.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên họp phát biểu ý kiến:
+ Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng của Thẩm phán:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Thẩm phán đã thực hiện đúng nội dung quy định tại Điều 48, Điều 366, Điều 392 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Tòa án nhân dân huyện Củ Chi đã thụ lý việc dân sự và giải quyết đúng thẩm quyền, xác định quA1 hệ pháp luật và xác định đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, đã tiến hành các biện pháp thu thập và đánh giá chứng cứ, triệu tập các bên đương sự lấy lời khai đúng quy định pháp luật, tống đạt thông báo về việc thụ lý việc dân sự cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng là phù hợp quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
- Về thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu: Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 392 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Tại phiên họp, Thẩm phán thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về phiên họp.
+ Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:
Từ khi thụ lý vụ việc cũng như tại phiên họp giải quyết việc dân sự, người yêu cầu đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
+ Ý kiến về việc giải quyết việc dân sự:
Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông Lê Vĩnh Ph về việc yêu cầu tuyên bố bà Lê Thị Ng là đã chết theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, ngày chết được xác định là ngày 26/3/2013.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:
- 2 -
Về tố tụng:
Đây là việc dân sự: “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết”. Người bị yêu cầu bà Lê Thị Ng có nơi cư trú cuối cùng tại xã T, huyện Củ Chi nên theo quy định tại khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Củ Chi có thẩm quyền giải quyết việc dân sự trên.
Theo kết quả xác minh của Công A1 xã T, huyện Củ Chi thì cha mẹ của bà Lê Thị Ng là ông Lê Văn Tr và bà Nguyễn Thị D đều đã chết nên Tòa án không đưa ông Tr, bà D vào tham gia tố tụng.
Về nội dung:
Căn cứ vào đơn yêu cầu và các chứng cứ kèm theo của người yêu cầu có đủ cơ sở xác định: Theo lời trình bày của ông Lê Vĩnh Ph thì ông Ph là A1h ruột của bà Lê Thị Ng. Nơi bà Ng có hộ khẩu thường trú và cư ngụ cuối cùng là tại tổ 5, ấp C, xã T, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Tr và bà D có tổng cộng 04 người con gồm: ông Lê Vĩnh Ph, bà Lê Thị Ph1, ông Lê Văn A1 và bà Lê Thị Ng. Năm 1999, Bà Lê Thị Ng vượt biên đi nước ngoài, từ đó gia đình bà không có tin tức gì của bà Ng nữa, sống chết không ai biết, bà Ng khi vượt biên chưa có chồng con gì cả.
Xét thấy, ông Ph đã đăng tin tìm kiếm bà Ng trên báo Pháp luật trong 3 kỳ liên tiếp là số 262 ngày 18/9/2020, số 263 ngày 19/9/2020, số 264 ngày 20/9/2020, đăng thông báo tìm bà Lê Thị Ng trên kênh VTV9 từ ngày 21/9/2020 đến ngày 23/9/2020 nhưng đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng tin lần đầu tiên nhưng đến nay vẫn không có thông tin nào về bà Ng; Công A1 xã T, huyện Củ Chi cũng xác nhận bà Ng thực tế không ở địa phương từ năm 1999; Căn cứ xác nhận của Công A1 huyện Củ Chi ngày 18/8/2020: ngày 25/3/2008 ông Ph có yêu cầu xóa định cư Mỹ (theo HK02) đối với bà Lê Thị Ng tại ấp C, xã T, huyện Củ Chi. Công A1 huyện Củ Chi đã xóa đăng ký thường trú đối với bà Ng tại ấp C, xã T, huyện Củ Chi. Căn cứ xác nhận của xã T ngày 20/8/2020 và ngày 11/01/2021: bà Lê Thị Ng, sinh năm: 1970; địa chỉ: tổ 5, ấp C, xã T, huyện Củ Chi, thành phố Hoà Chí Minh đã xóa hộ khẩu thường trú tại ấp C, xã T, huyện Củ Chi, thành phố Hoà Chí Minh. Hiện bà Ng đi đâu, làm gì không rõ, bà Ng không có chồng con. Từ những căn cứ trên, xét thấy việc ông Ph yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi tuyên bố bà Lê Thị Ng là đã chết là có căn cứ chấp nhận.
Việc quản lý tài sản của người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết: Đương sự không yêu cầu nên không xét.
Từ những phân tích trên, xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi là phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Về lệ phí:
Ông Ph phải nộp lệ phí theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy bA1 Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- 3 -
- Áp dụng khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 4 Điều 143, Điều 371, Điều 372, Điều 392, Điều 393 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Áp dụng khoản 1, 3 Điều 71 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Áp dụng khoản 2 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy bA1 Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của ông Lê Vĩnh Ph.
Tuyên bố: Bà Lê Thị Ng, sinh năm 1970; nơi cư trú cuối cùng: tổ 5, ấp C, xã T, huyện Củ Chi, thành phố Hoà Chí Minh là đã chết. Ngày chết là ngày 26/3/2013, tài sản mà bà Lê Thị Ng được thừa kế từ ông Lê Văn Tr và bà Nguyễn Thị D được giải quyết theo quy định Bộ luật dân sự.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:
Ông Lê Vĩnh Ph phải nộp lệ phí là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số AA/2019/0084558 ngày 01/9/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi, ông Ph đã nộp đủ lệ phí sơ thẩm.
3. Người yêu cầu có mặt tại phiên họp được quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quA1 vắng mặt tại phiên họp được quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết.
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
| Nơi nhận: - TA1D Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND huyện Củ Chi; - Chi cục Thi hành án dân sự H. Củ Chi; - Các đương sự; - UBND xã T; - Lưu: Vp, hồ sơ vụ án. - 4 - | Phan Hùng Vương |