vanban.org

Quyết định 59/2017/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa:

Anh Trần Anh B và chị Nguyễn Thị A, Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị A, Trần Anh B"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa:
  • Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƢ PƢH
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 59/2017/QĐST-HNGĐChư Pưh, ngày 30 tháng 11 năm 2017

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN VÀ SỰ THOẢ THUẬN

CỦA CÁC ĐƢƠNG SỰ

Căn cứ vào hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số: 65/2017/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2017, giữa:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị A năm sinh : 1986;

Trú tại: thôn C, xã D, huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai.

- Bị đơn: Anh Trần Anh B sinh năm 1985;

Trú tại: Thôn C, xã D, huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai.

Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 22 tháng 11 năm 2017,

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 22 tháng 11 năm 2017 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa:

Anh Trần Anh B và chị Nguyễn Thị A,

2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:

2.1. Về con chung: anh chị có 02 người con chung:

Trần Anh M, sinh ngày 26/3/2009 (nam)

Trần Anh N, sinh ngày 30/10/2010 (nữ)

Chị A và anh B thỏa thuận: giao con chung Trần Anh M, sinh ngày 26/3/2009 (nam), Trần Anh N, sinh ngày 30/10/2010 (nữ) cho chị A trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng trực tiếp con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Anh B không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.

Cha mẹ không trực tiếp nuôi con chung có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con chung được sống chung với người trực tiếp nuôi; người không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở; Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con chung lạm dụng việc tham nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đên việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì người trực tiếp nuôi con chung có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền tham nom của người đó.

2.2 Về tài sản chung và nợ chung: anh chị không yêu cầu tòa án giải quyết

2.3 Về án phí: Anh B và chị A thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án nên được giảm 50% án phí Dân sự sơ thẩm. Chị A tự nguyện chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm (gồm cả phần án phí mà anh Bphải nộp) 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) sung vào công quỹ nhà nước; được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0000463 ngày 09/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai. Chị Lý được trả lại 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp. Anh B và chị A đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ