vanban.org

Quyết định 59/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận cho anh Lương Vũ H được ly hôn với chị Nguyễn Kiều Y.

Về nuôi con chung: Anh Lương Vũ H được nuôi con tên Lương Hoàng Anh T, sinh ngày 12/01/2014 đang ở với anh H. Phần cấp dưỡng không đặt ra. Chị Nguyễn Kiều Y có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc và giáo dục con không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng quyền thăm con để gây ảnh hưởng đến vi…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hải - Yến"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho anh Lương Vũ H được ly hôn với chị Nguyễn Kiều Y.
  • Căn cứ chính? Luật Hôn nhân và gia đình giao con; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGỌC HIỂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2017/HNGĐ-ST
Ngày 20-7-2017
V/v yêu cầu ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HIỂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Thanh Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Bùi Ngọc Dung.

2. Ông Trịnh Thành Trung.

- Thư ký phiên toà: Ông Huỳnh Văn Lợi là Thư ký Toà án nhân dân huyện Ngọc Hiển.

Ngày 20 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 180/2017/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2017 về yêu cầu ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 7 tháng 7 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Lương Vũ H, sinh năm 1990 (Có mặt).

Địa chỉ cư trú: Khóm 4, thị trấn R, huyện N, tỉnh Cà Mau.

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Kiều Y, sinh năm 1990 (Vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Khóm 4, thị trấn R, huyện N, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 27 tháng 6 năm 2017 của anh Lương Vũ H và quá trình tố tụng tại Tòa án anh H trình bày: Anh và chị Nguyễn Kiều Y tự nguyện kết hôn vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Ân Tây, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn để anh H yêu cầu ly hôn chủ yếu là do bất đồng quan điểm, lối sống, tính tình không hợp nhau, không ai quan tâm chăm sóc cho ai, mỗi lần cự cải thì chị Y bỏ nhà đi, dẫn đến cuộc sống không hạnh phúc.

Con chung của anh chị có một người con tên Lương Hoàng Anh T, sinh ngày 12/01/2014 đang ở cùng anh. Sau khi ly hôn, anh H yêu cầu nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại đơn vắng mặt ngày 02 tháng 7 năm 2017 chị Nguyễn Kiều Y trình bày: Thời gian chị và anh Lương Vũ H kết hôn vào năm 2013, có đăng ký kết hôn như anh H xác định. Về nguyên nhân mâu thuẫn là do bất hòa cự cải không thể tiếp tục chung sống với nhau được nên chị Y chấp nhận ly hôn cùng anh H.

Con chung như anh H trình bày là đúng, chị chấp nhận để anh Hải nuôi con.

Tài sản chị Y cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Vụ việc theo yêu cầu của anh Lương Vũ H được Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chị Nguyễn Kiều Y có đơn đề nghị vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Nguyễn Kiều Y.

Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa anh Lương Vũ H và chị Nguyễn Kiều Y được xác lập vào năm 2013, có đăng ký kết hôn theo luật định nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn chủ yếu là do có sự bất hòa nhau trong đời sống vơ chồng, thường không tin tưởng lẫn nhau. Bản thân anh chị vẫn không tìm được biện pháp hữu hiệu để xoa diệu mâu thuẫn nhằm hàng gắn lại tình cảm vợ chồng. Xét thấy, đã có sự vi phạm nghiêm trọng về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, phía chị Y cũng thống nhất ly hôn nên chấp nhận yêu cầu của anh H được ly hôn với chị Y là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Anh H và chị Y có một người tên Lương Hoàng anh T, sinh ngày 12/01/2014 đang ở cùng anh H, phía chị Y thống nhất giao con cho anh H nuôi. Xét thấy, các đương sự đã thỏa thuận việc nuôi con, nội dung thỏa thuận không trái với quy định của pháp luật nên áp dụng Điều 81của Luật Hôn nhân và gia đình giao con cho anh H nuôi. Anh H đủ điều kiện và đảm bảo được việc nuôi con và anh H không yêu cầu cấp dưỡng nên không đặt ra.

Chị Y có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc và giáo dục con theo quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về chia tài sản: Các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Anh Lương Vũ H là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên anh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, được khấu trừ phần tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch anh H đã nộp.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào vào Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 228, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; xử vắng mặt chị Nguyễn Kiều Y.

Về hôn nhân: Chấp nhận cho anh Lương Vũ H được ly hôn với chị Nguyễn Kiều Y.

Về nuôi con chung: Anh Lương Vũ H được nuôi con tên Lương Hoàng Anh T, sinh ngày 12/01/2014 đang ở với anh H. Phần cấp dưỡng không đặt ra.

Chị Nguyễn Kiều Y có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc và giáo dục con không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng quyền thăm con để gây ảnh hưởng đến việc nuôi con của anh H.

Về chia tài sản: Không xem xét giải quyết trong cùng vụ án.

Án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch anh Lương Vũ H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), anh H đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0013714 ngày 27/6/2017 được khấu trừ.

Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt thời gian kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ