vanban.org

Quyết định 58/2025/QĐ-PT — Tranh chấp về mua bán hàng hóa

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/05/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn B1.

Quyết định số: 241/2024/QĐST-KDTM ngày 06/9/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số: 32/2023/TLST-KDTM ngày 02/3/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”. Về án phí phúc thẩm: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "Công ty B kiện Công ty T3"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn B1.
  • Căn cứ chính? Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 58/2025/QĐ-PTThành phố Hồ Chí Minh, ngày 26 tháng 5 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tửu

Các Thẩm phán:

Ông Phan Đức Phương

Bà Lê Thị Tuyết Trinh

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số:

241/2024/QĐST-KDTM ngày 06 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ các Điều 30, Điều 48, điểm a Khoản 1 Điều 192, điểm g Khoản 1 Điều 217, các Điều 218, 219 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, quyết định:

1. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 32/2013/TLST-

KDTM ngày 02/3/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” giữa:

- Nguyên đơn: Barrett B Co. P. Ltd;

Địa chỉ: A G, C, V, Australia.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:

+ Ông Phạm Văn L;

+ Ông Hán Quang T;

Cùng địa chỉ: Tầng D, Tòa nhà M, số C L, phường B, Quận A, Thành

phố Hồ Chí Minh.

(Theo Giấy ủy quyền ngày 16/7/2014 của Công ty L1 (V)).

- Bị đơn: Công ty Cổ phần T3;

Địa chỉ: Lô F đường số B, Khu công nghiệp T, phường T, quận B,

Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Huỳnh Văn T1;

Địa chỉ: A, Chung cư E, 103, Hồ N, phường A, quận B, Thành phố Hồ

Chí Minh.

(Theo Giấy ủy quyền ngày 08/4/2023).

2. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án: Đương sự được quyền

khởi kiện lại vụ án theo quy định của pháp luật.

Nguyên đơn Barrett Burston Malting Co. P. Ltd được nhận lại

71.247.687 (bảy mươi mốt triệu, hai trăm bốn mươi bảy ngàn, sáu trăm tám mươi bảy) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0003908 ngày 20/02/2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại Đơn kháng cáo ngày 21/11/2024, nguyên đơn Công ty B. Ltd đã

kháng cáo toàn bộ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sư số: 241/2024/QĐST- KDTM ngày 06/9/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Lý do kháng cáo: Nguyên đơn cho rằng Quyết định đình chỉ nêu trên là không có căn cứ, thiếu thuyết phục và không phù hợp với các tình tiết, hồ sơ vụ án, với các căn cứ cụ thể như sau:

Ngày 29/8/2024, nguyên đơn đã nộp Đơn yêu cầu xin gia hạn thời hạn

giao nộp tài liệu, chứng cứ kéo dài đến ngày cuối cùng là ngày 14/9/2024, Đơn xin gia hạn này đã được gửi cho Thư ký Tòa sơ thẩm và được chuyển phát thành công vào sáng ngày 30/8/2024 (trước thời hạn ấn định giao nộp tài liệu, chứng cứ cuối cùng của Tòa sơ thẩm là ngày 04/9/2024). Tuy nhiên, nguyên đơn không nhận được bất kỳ ý kiến phản hồi nào từ Tòa án cấp sơ thẩm về yêu cầu xin gia hạn vừa nêu. Vì vậy, vào ngày 12/9/2924 (trước khi hết hạn xin gia hạn) nguyên đơn đã trực tiếp nộp đầy đủ các tài liệu theo yêu cầu của Tòa sơ thẩm. Do đó, việc Tòa sơ thẩm nhận định rằng “nguyên đơn vẫn chưa nộp đầy đủ các tài liệu, chứng cứ bổ sung theo yêu cầu của Tòa án và cũng không có đơn yêu cầu gia han nộp tài liệu, chứng cứ” là hoàn toàn không chính xác, không phù hợp với các tình tiết, hồ sơ vụ án; nguyên đơn đã cung cấp bản dịch tiếng Việt đối với phần nội dung chứng nhận hợp pháp hóa lãnh sự của Đơn khởi kiên ngày 12/12/2022; Ông Trần Miên T2 đã được ủy quyền hợp lệ để ký Đơn khởi kiện sửa đổi bổ sung ngày 12/8/2024; ngoài ra, nguyên đơn cũng đã nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm Đơn khởi kiện ngày 12/12/2022 và Đơn khởi kiện (sửa đổi bổ sung) ngày 12/8/2024 được hợp pháp hóa lãnh sự và được ký bởi Giám đốc/Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn…

Vì thế, nguyên đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét

hủy Quyết định đình chỉ của Tòa án cấp sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiếp tục giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

phát biểu quan điểm tại phiên họp:

Về thủ tục, Hội đồng phúc thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật

Tố tụng dân sự về phiên họp giải quyết kháng cáo đối với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.

Đối với kháng cáo của nguyên đơn là không có căn cứ, bởi Tòa sơ thẩm

đã ấn định thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ bổ sung hạn cuối cùng là ngày 04/9/2024 nhưng đến ngày 12/9/2024 nguyên đơn mới nộp, trong khi ngày 06/9/2024 Tòa sơ thẩm đã ra Quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án. Tại cấp phúc thẩm, nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ nào mới. Vì thế, đề nghị Hội đồng cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên quyết định sơ thẩm.

XÉT THẤY

Về thủ tục:

Kháng cáo của nguyên đơn B1. Ltd là hợp lệ theo khoản 2 Điều 273 Bộ

luật Tố tụng dân sự nên được xem xét tại cấp phúc thẩm.

Về nội dung:

Tòa sơ thẩm ấn định thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ với thời hạn

cuối cùng là ngày 04/9/2024 nhưng nguyên đơn đã không cung cấp bổ sung được tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án cấp sơ thẩm. Theo đó, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 192 và điểm g khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa sơ thẩm ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự vào ngày 06/9/2024; hậu quả của Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa sơ thẩm là đương sự có quyền khởi kiện lại vụ án theo quy định của pháp luật, là có căn cứ, đúng quy định.

Vì thế, Hội đồng cấp phúc thẩm chấp nhận đề nghị của đại diện Viện

kiểm sát; không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn B1. Ltd, giữ nguyên quyết định sơ thẩm.

Về án phí phúc thẩm:

Do kháng cáo không được chấp nhận nên căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị

quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn B1. Ltd phải nộp 2.000.000 (hai triệu) đồng tiền án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm, được khấu trừ từ 2.000.000 (hai triệu) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0069592 ngày 24/12/2024 tại Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ vào Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn B1. Ltd, giữ nguyên

Quyết định số: 241/2024/QĐST-KDTM ngày 06/9/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số: 32/2023/TLST-KDTM ngày 02/3/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”.

2. Về án phí phúc thẩm:

Nguyên đơn Barrett Burston M Co. Pty. Ltd nộp 2.000.000 (hai triệu)

đồng tiền án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm, được khấu trừ từ 2.000.000 (hai triệu) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0069592 ngày 24/12/2024 tại Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ