vanban.org

Quyết định 58/2018/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Hà Thị H và anh Trần Văn T.

Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau: Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị H và anh Trần Văn T thuận tình ly hôn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hiên Toàn"
  • Tòa quyết gì? Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Hà Thị H và anh Trần Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ PHÚ THỌ
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 58/2018/QĐST-HNGĐThị xã Phú Thọ, ngày 14 tháng 6 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số 63/2018/TLST/HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2018, giữa:

Nguyên đơn: Chị Hà Thị H, sinh năm 1975; địa chỉ: Khu 14, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ;

Bị đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1976, địa chỉ: Khu 14, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ;

Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các điều 55, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 07 tháng 6 năm 2018;

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 07 tháng 6 năm 2018 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Hà Thị H và anh Trần Văn T.

2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị H và anh Trần Văn T thuận tình ly hôn.

- Về con chung:

Cháu Trần Thị N sinh ngày 06/06/2000, đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Hà Thị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Trần Quang H, sinh ngày 03/01/2005. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.

- Về tài sản chung:

Chị H sở hữu 01 ngôi nhà cấp 4 diện tích 48,72 m2 (8,4 m x 5,8 m) và quyền sử dụng thửa đất diện tích 190 m2 đất ở, theo biên bản kiểm tra hiện trạng quyền sử dụng đất ngày 07/6/2017 của UBND xã H, ký hiệu là S1, có chỉ giới là B - C - D - E - B, đều thuộc thửa đất số 758, tờ bản đồ số 77, đã được cấp giấy chứng nhận đứng tên ông Trần Văn T, tại khu 14, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.

Anh T sở hữu 01 ngôi nhà bếp diện tích 19 m2 (3,8 m x 5 m) và quyền sử dụng thửa đất diện tích 110 m2 đất ở, theo biên bản kiểm tra hiện trạng quyền sử dụng đất ngày 07/6/2017 của UBND xã H, ký hiệu là S2, có chỉ giới là A - B - E - F - A, đều thuộc thửa đất số 758, tờ bản đồ số 77, đã được cấp giấy chứng nhận đứng tên ông Trần Văn T, tại khu 14, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.

Anh T và chị H, mỗi bên tự khắc phục hiện trạng sử dụng đất để mở lối đi ra đường giao thông trên phần đất của mình.

Chị H tự nguyện cam kết và có nghĩa vụ tháo dỡ để di dời một phần xây dựng của ngôi nhà cấp 4 (bao gồm có bức tường gian buồng tiếp giáp tường nhà bếp của anh T), nằm trên phần đất của anh T ngay khi anh Toàn có yêu cầu và đảm bảo quyền sử dụng đất của anh T theo thỏa thuận nêu trên.

- Về công sức, công nợ: Không có. Không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Chị Hà Thị H tự nguyện nộp cả 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. ................................................

Xác nhận chị H đã nộp số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 03453 ngày 23/4/2018 và 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) theo biên lai số 03456 ngày 23/4/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ. Chị H còn được trả lại số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm là 5.150.000đ (Năm triệu một trăm năm mươi nghìn đồng).

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ