vanban.org

Quyết định 579/2017/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND Q. Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 06/12/2017 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu quyết việc dân sự của bà Nguyễn Thị S.

Tuyên bố ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1960; nơi cư trú cuối cùng tại Đường L, Phường C, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh đã chết. Ngày chết của ông Nguyễn Văn T1 là ngày 01/01/1986. Bà Nguyễn Thị S thực hiện việc đăng ký khai tử cho ông Nguyễn Văn T1 theo quy định của pháp luật về hộ tịch. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Tuyên bố một người là đã chết"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu quyết việc dân sự của bà Nguyễn Thị S.
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 579/2017/QĐDS-ST
Ngày: 06-12-2017
V/v: Tuyên bố một người là đã chết

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

- Chủ tọa phiên họp: Bà Mai Thị Bích Thảo – Thẩm phán

- Thư ký phiên họp: Bà Vũ Thị Thu Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tham gia phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ánh - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, mở phiên họp sơ thầm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 105/2017/TLST-DSST ngày 11 tháng 4 năm 2017 về yêu cầu “Tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định đưa mở phiên họp số 37/2017/QĐ-MPH ngày 27/11/2017.

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Bà Nguyễn Thị S , sinh năm 1965; địa chỉ: Đường L, Phường C, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

2. Người bị yêu cầu tuyên bố chết: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1960;

Nơi cư trú cuối cùng tại: Đường L, Phường C, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị Q , sinh năm 1958; địa chỉ: Đường L, Phường C, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

4. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:

Bà Nguyễn Thị S yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1960; nơi cư trú cuối cùng tại Đường L, Phường C, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết.

NHẬN ĐỊNH:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:

Theo lời trình bày của bà Nguyễn Thị S thì ba mẹ của bà là ông Nguyễn Văn P (đã chết ngày 11/12/2007 theo trích lục khai tử số 01/2007/TLKT-BS của Ủy ban nhân dân Phường C, quận T) và bà Phạm Thị N (đã chết ngày 03/11/2009 theo trích lục khai tử số 47/TLKT-BS của Ủy ban nhân dân Phường C, quận T) chung sống với nhau có 4 người con gồm: ông Nguyễn Văn H , sinh năm 1956 (đã chết ngày 15/11/2008 theo trích lục khai tử số 01/2008/TLKT-BS của Ủy ban nhân dân Phường C, quận T), bà Nguyễn Thị Q , sinh năm 1958; ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị S , sinh năm 1965. Do các anh chị em của bà đều sinh ở Campuchia nên ba mẹ của bà không có thực hiện việc đăng ký giấy khai sinh cho các con. Sau khi về Việt Nam sinh sống, cả gia đình bà đăng ký thường trú tại địa chỉ Đường L, Phường C, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cho đến nay. Vào khoảng năm 1980, ông Nguyễn Văn Tư thường đi làm ăn xa, thỉnh thoảng có ghé về thăm nhà nhưng sau đó bỏ đi biệt tích, không có tin tức gì. Ngày 24/4/2013 Tòa án nhân dân quận T đã có Quyết định số 13/2013/QĐST-DS tuyên bố ông Nguyễn Văn T1 mất tích. Từ ngày Tòa tuyên bố ông T1 mất tích đến nay, gia đình vẫn không có tin tức gì nên nay bà yêu cầu tuyên bố ông Nguyễn Văn T1 đã chết để giải quyết các vấn đề liên quan đến di sản thừa kế của ba mẹ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Q thống nhất với lời trình bày của bà S và đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà S về việc tuyên bố ông T1 là đã chết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu ý kiến đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị S , tuyên bố ông Nguyễn Văn T1 là đã chết.

Theo qui định tại khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì việc bà Nguyễn Thị S yêu cầu tuyên bố ông Nguyễn Văn T1 đã chết là việc dân sự, xét ông T1 có nơi cư trú cuối cùng tại quận Tân Bình, do đó vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh.

Tuy bà Nguyễn Thị S không xuất trình được giấy khai sinh chứng minh mối liên hệ với người bị yêu cầu là ông Nguyễn Văn T1 nhưng căn cứ vào xác nhận của Công an quận T ngày 17/5/2017 có thể hiện nội dung:” Tờ khai gia đình cấp ngày 15/4/1974 tại địa chỉ: ấp G, xã P, quận T có ghi tên:

1- Phạm Thị N , SN 1973 – Gia trưởng

2- Nguyễn Văn P , SN 1925 – chồng

3- Nguyễn Văn H , SN 1956 – con

4- Nguyễn Thị Q , SN 1958 – con

5- Nguyễn Văn T1, SN 1960 – con

6- Nguyễn Thị S , SN 1965 – con” thể hiện bà S và ông T1 có mối quan hệ anh em nên bà S có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Văn T1 đã chết.

Xét lời trình bày của bà S , bà Q rằng vào năm 1980, ông Nguyễn Văn T1 bỏ nhà ra đi không để lại tin tức, cũng như không liên lạc gì với gia đình. Khi đi, ông T1 còn độc thân và cũng không có tài sản gì. Công an Phường C, quận T có xác nhận:”Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1960, từ năm 1980 đến nay không cư ngụ tại Đường L, Phường C, quận T ”.

Năm 2013, bà S1 có đơn yêu cầu tuyên bố ông Nguyễn Văn T1 bị mất tích và Tòa án nhân dân quận T đã chấp nhận yêu cầu của bà S và đã ra Quyết định số 13/2013/QĐST-DS ngày 24/4/2013 tuyên bố ông Nguyễn Văn T1 mất tích ngày 01/01/1983. Ngoài ra, bà S cũng đã thực hiện thủ tục đăng ký thông báo tìm kiếm thông tin đối với ông T1 trên báo, đài và ngày 08/6/2017 Tòa án nhân dân quận T đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm thông tin số 105/TAQTB về việc ông Nguyễn Văn T1 bị yêu cầu tuyên bố là đã chết và đã thực hiện thủ tục đăng thông tin trên cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định nhưng cũng không có tin tức xác thực về việc ông T1 còn sống hay đã chết.

Xét đã sau 3 năm kể từ ngày quyết định tuyên bố một người mất tích đối với ông Nguyễn Văn T1 có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự năm 2015 nên yêu cầu của bà S1 tuyên bố ông T1 đã chết là có căn cứ, được chấp nhận.

Do không xác định được cụ thể ngày, tháng có tin tức cuối cùng nên ngày chết của ông T1 được xác định là ngày đầu tiên của năm tiếp theo sau 5 năm kể từ năm 1980 theo quy định tại khoản 1 Điều 68 và khoản 2 Điều 71 Bộ luật dân sự năm 2015.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự bà S phải chịu theo quy định.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 371, 372; Điều 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 71; Điều 72 của Bộ luật dân sự năm 2015.

- Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2014;

- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu quyết việc dân sự của bà Nguyễn Thị S.

2. Tuyên bố ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1960; nơi cư trú cuối cùng tại Đường L, Phường C, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh đã chết. Ngày chết của ông Nguyễn Văn T1 là ngày 01/01/1986.

Bà Nguyễn Thị S thực hiện việc đăng ký khai tử cho ông Nguyễn Văn T1 theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết theo có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết.

Quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

3. Về lệ phí dân sự sơ thẩm: 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) do bà Nguyễn Thị S chịu, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí bà S đã nộp là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0012427 ngày 04/4/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận T. Bà S đã nộp đủ lệ phí.

4. Trường hợp bản án thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định này trong hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày,Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ