- Tranh chấp gì? Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi — án hôn nhân và gia đình — "Trần B, Hồ Thị V - Nguyễn Trần T"
- Tòa quyết gì? Căn cứ Khoản 5 Điều 29, Điểm b Khoản 2 Điều 35, Điểm l Khoản 2 Điều 39, Khoản 2 Điều 367, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ chính? Điều 25 Luật Nuôi con nuôi; Điều 26 Luật Nuôi con nuôi; Điều 27 Luật Nuôi con nuôi
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 578/2021/QĐST-HNGĐ | Bình Chánh, ngày 20 tháng 5 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Trần Tuấn Khương.
Thư ký phiên họp: Bà Châu Nguyễn Thanh Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Phan Mỹ Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 359/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 4 năm 2021 về việc “Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 08/2021/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
1/ Ông Trần B, sinh năm 1959.
2/ Bà Hồ Thị V, sinh năm 1966.
3/ Bà Nguyễn Trần T, sinh năm 1989.
Cùng địa chỉ: 5B2 ấp O, xã P, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 24/3/2021 và bản tự khai ngày 06/5/2021 người yêu cầu là ông Trần B, bà Hồ Thị V và bà Nguyễn Trần T trình bày như sau:
Bà T là con của em ruột ông B, vào năm 2004 do cha mẹ ruột của bà T làm công nhân viên cho Nông trường 705 huyện Iagrãi, tỉnh Gia Lai, điều kiện sinh sống và học hành tại thời điểm đó khó khăn. Nên ông B, bà V và cha mẹ của bà T có thỏa thuận để bà T về sống chung với ông B, bà V để tạo điều kiện cho bà T có cơ hội được học hành và sinh sống đầy đủ hơn.
Ngày 31/5/2004, Ủy ban nhân dân xã P, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 133 QĐ/UB công nhận nuôi con nuôi giữa ông B và bà V đối với bà Nguyễn Trần T, sinh ngày 01/02/1989.
Đến nay, cha mẹ ruột của bà Nguyễn Trần T có hoàn cảnh kinh tế đảm bảo, đồng thời bà T nay đã trưởng thành và muốn trở về sinh sống với cha mẹ ruột nên theo sự đồng thuận của ông B, bà V và bà T đề nghị Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông Trần B và bà Hồ Thị V đối với bà Nguyễn Trần T, sinh ngày 01/02/1989. Vì bận công việc, không thể đến Tòa để giải quyết vụ việc nói trên, nên ông B, bà V và bà T xin được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ việc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu quan điểm về việc giải quyết việc dân sự như sau: Về thủ tục tố tụng thì việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, thời hạn mở phiên họp và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý việc dân sự cho đến trước thời điểm mở phiên hợp đã thực hiện đầy đủ và đúng theo quy định của pháp luật. Về nội dung Viện kiểm sát nhân nhân huyện Bình Chánh đề nghị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh giải quyết theo hướng chấp nhận yêu cầu của ông Trần B và bà Hồ Thị V về việc “Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi” đối với bà Nguyễn Trần T theo quy định tại khoản 1 Điều 25 Luật nuôi con nuôi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án và thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Ngày 24/3/2021 ông Trần B, bà Hồ Thị V, bà Nguyễn Trần T có đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông B, bà V đối với bà Nguyễn Trần T nộp tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ theo quy định tại Khoản 5 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì đây là yêu cầu thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Người yêu cầu hiện đang cư trú tại địa chỉ: 5B2 ấp O, xã P, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh do đó việc giải quyết yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 35, Điểm l Khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về thủ tục tố tụng: Tại các bản tự khai ngày 06/5/2021 ông Trần B, bà Hồ Thị V và bà Nguyễn Trần T cùng có đơn xin vắng mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự. Căn cứ vào Khoản 2 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc dân sự vắng mặt ông Trần B, bà Hồ Thị V và bà Nguyễn Trần T.
Về nội dung của việc giải quyết yêu cầu:
Ông Trần B, bà Hồ Thị V và bà Nguyễn Trần T cùng trình bày: Vào năm 2004, ông Trần B, bà Hồ Thị V có nhận bà Nguyễn Trần T làm con nuôi theo Quyết định số 133 QĐ/UB ngày 31 tháng 5 năm 2004 của Ủy ban nhân dân xã P, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Nay do bà Nguyễn Trần T đã thành niên và muốn trở về sinh sống với cha mẹ ruột nên ông Trần B, bà Hồ Thị V và bà Nguyễn Trần T cùng yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi nói trên.
Xét việc yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi là tự nguyện, không trái pháp luật và phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 25, khoản 1 Điều 26 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 nên được Tòa án chấp nhận.
Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Đối với ông Trần B, bà Hồ Thị V là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn nộp lệ phí theo quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tòa án đã giải thích để ông Trần B và bà Hồ Thị V làm đơn xin miễn án phí, tuy nhiên ông B và bà V tự nguyện chịu số tiền lệ phí và không yêu cầu Tòa án miễn lệ phí đối với ông bà.
Do đó, các đương sự phải chịu lệ phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 5 Điều 29, Điểm b Khoản 2 Điều 35, Điểm l Khoản 2 Điều 39, Khoản 2 Điều 367, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Khoản 1 Điều 25, Khoản 1 Điều 26, Điều 27 Luật Nuôi con nuôi năm 2010.
Căn cứ Khoản 1 Điều 78 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Trần B và bà Hồ Thị V đối với bà Nguyễn Trần T:
Chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông Trần B và bà Hồ Thị V đối với bà Nguyễn Trần T theo Quyết định công nhận con nuôi số 133 QĐ/UB ngày 31 tháng 5 năm 2004 của Ủy ban nhân dân xã P, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ nuôi ông Trần B, bà Hồ Thị V đối với con nuôi bà Nguyễn Trần T được chấm dứt kể từ ngày quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đẻ đã chấm dứt theo quy định tại Khoản 4 Điều 24 của Luật Nuôi con nuôi năm 2010 được khôi phục.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Các đương sự phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã đóng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0081228 ngày 29/3/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Các đương sự đã nộp đủ tiền lệ phí sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Các đương sự có quyền kháng cáo Quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định này được thông báo, niêm yết theo quy định của pháp luật.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKS ND H. Bình Chánh; - UBND xã P, H. Bình Chánh, Tp. HCM; - Lưu: VT, hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Trần Tuấn Khương |