- Tranh chấp gì? Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp thừa kế"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 552/2010/TLST-DS ngày 24/11/2010 về việc: “Tranh chấp thừa kế”, giữa: Nguyên đơn: Bà Lư Thị Ch, sinh năm 1962.
- Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 219 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 574/2021/QĐST-DS | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 26 tháng 4 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ
Căn cứ vào các Điều 48, Điểm c Khoản 1 Điều 217, Điều 218, Điều 219 và Khoản 2 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Pháp lệnh án phí, lệ phí năm 2009;
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 48 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 552/2010/TLST-DS ngày 24/11/2010 về việc: “Tranh chấp thừa kế”;
Xét thấy: Nguyên đơn bà Lư Thị Ch khởi kiện yêu cầu Tòa án chia thừa kế đối với căn nhà số 90 Ng, Phường V, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh và căn nhà số 137 T, Phường V, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh cho các anh, chị em gồm: Lư Thị Ch, Lư N, Lư Vĩnh T, Lư Muoi K, Lư Thị H, ông Văn D, Ông Thị V.
Ngày 12/5/2011, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tạm đình chỉ giải quyết vụ án trên theo Quyết định số 195/2011/QĐST-DS do cần chờ kết quả giải quyết vụ án tranh chấp về quyền sở hữu đối với căn nhà số 137 T. Nay vụ án liên quan đến căn nhà số 137 T đã được giải quyết bằng Bản án số 510/2016/DSST ngày 26/5/2016 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và Bản án số 04/2019/DSPT ngày 07/01/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tiếp tục giải quyết vụ án theo Quyết định số 1252/2021/QĐST-DS ngày 25/3/2021.
Theo đơn khởi kiện đề ngày 07/10/2010 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lư Thị Ch đều cung cấp địa chỉ cư trú của bà là ở 90 Ng, Phường V, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên trong bản án số 04/2019/DSPT ngày 07/01/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có ghi địa chỉ liên lạc của bà Ch là tại: 146 Th, phường Ph, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án đã tiến hành tống đạt giấy triệu tập đương sự đến Tòa làm việc cho nguyên đơn theo cả 02 địa chỉ nêu trên, cụ thể:
Tòa án đã triệu tập nguyên đơn theo cả 02 địa chỉ là 90 Ng, Phường V, Quận N và 146 Th, phường Ph, quận T để đến Tòa làm việc nhưng tại thời điểm tống đạt, công an khu vực và tổ trưởng tổ dân phố ở cả 02 địa chỉ trên đều cho biết tại các địa chỉ trên không có ai tên Lư Thị Ch. Theo quy định tại Khoản 3 Điều 70 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì nguyên đơn có quyền, nghĩa vụ “cung cấp đầy đủ, chính xác địa chỉ nơi cư trú, trụ sở của mình; trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc nếu có thay đổi địa chỉ nơi cư trú, trụ sở thì phải thông báo kịp thời cho đương sự khác và Tòa án” nhưng đến thời điểm này nguyên đơn không có bất cứ thông báo nào về việc thay đổi địa chỉ, Tòa án cũng không có thông tin gì khác của nguyên đơn. Do không thể tống đạt trực tiếp văn bản tố tụng theo quy định tại Điều 177 và Điều 178 của Bộ luật Tố tụng Dân sự nên Tòa án đã thực hiện thủ tục niêm yết công khai đối với nguyên đơn tại 02 địa chỉ nêu trên để đến Tòa làm việc vào các ngày 10/4/2021 và ngày 26/4/2021 nhưng nguyên đơn vẫn vắng mặt. Xét, nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nguyên đơn không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đối với yêu cầu của nguyên đơn. Trong vụ án này, bị đơn không có yêu cầu phản tố, không có yêu cầu độc lập và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác cũng không có yêu cầu độc lập;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 552/2010/TLST-DS ngày 24/11/2010 về việc: “Tranh chấp thừa kế”, giữa: Nguyên đơn: Bà Lư Thị Ch, sinh năm 1962. Địa chỉ thường trú: 90 Ng, Phường V, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ tạm trú: 146 Th, phường Ph, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Bị đơn:
- Ông Lư N, sinh năm 1955.
- Ông Lư Vĩnh T, sinh năm 1964. Địa chỉ: 90 Ng, Phường V, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lư Muối Kía, sinh năm 1947. Địa chỉ: 46 Kidman st, Yaraville 3013, Australia.
- Bà Lư Thị H, sinh năm 1960.
- Ông Ông Văn D, sinh năm 1966. Cùng địa chủ: 90 Ng, Phường V, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Ông Thị V, sinh năm 1967. Địa chỉ: 301A1, đường số 1, Phường 18, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. 2. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án:
- Khi đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự được quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Tiền tạm ứng án phí mà bà Lư Thị Ch đã nộp là 5.000.000 (Năm triệu) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 018293 ngày 18/11/2010 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh được sung vào công quỹ nhà nước.
3. Đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 07 ngày kề từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - TAND cấp cao tại TPHCM; - VKSND cấp cao tại TP.HCM; - VKSND TPHCM; - Cục THADS TPHCM; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ (T/20) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hồng Loan |