vanban.org

Quyết định 57/2025/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Ngh và anh Lương Văn Ch.

Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau: Về con: Công nhận chị Nguyễn Thị Ngh và anh Lương Văn Ch có 03 con Ch là cháu Lương Đức H3, sinh ngày 23/11/2007, cháu Lương Đức Th, sinh ngày 04/6/2009 và cháu Lương Phương L, sinh ngày 15/10/2020. Giao cả ba cháu Lương Đức H3, Lương Đức Th v… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Ngh. Lương Văn Ch."
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Ngh và anh Lương Văn Ch.
  • Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4- THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 57/2025/QĐST-HNGĐThanh Hóa, ngày 03 tháng 9 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số 113/2025/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” giữa:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngh, sinh năm 1988

Bị đơn: Anh Lương Văn Ch, sinh năm 1982

Cùng địa chỉ: Thôn P, xã Ch, tỉnh Thanh Hóa

(Là xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa cũ).

Căn cứ vào các Điều 212; Điều 213 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 55; 58; 81; 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 25 tháng 8 năm 2025.

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 25 tháng 8 năm 2025 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Ngh và anh Lương Văn Ch.

2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

Về con: Công nhận chị Nguyễn Thị Ngh và anh Lương Văn Ch có 03 con Ch là cháu Lương Đức H3, sinh ngày 23/11/2007, cháu Lương Đức Th, sinh ngày 04/6/2009 và cháu Lương Phương L, sinh ngày 15/10/2020. Giao cả ba cháu Lương Đức H3, Lương Đức Th và Lương Phương L cho chị Nguyễn Thị Ngh trực tiếp nuôi dưỡng, anh Lương Văn Ch có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi cháu Lương Đức Th và cháu Lương Phương L mỗi cháu là 2.000.000đ (Hai triệu đồng)/tháng. Thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 9/2025 cho đến khi hai cháu Th và L đủ 18 tuổi.

Anh Lương Văn Ch có quyền thăm nom con Ch, không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị Nguyễn Thị Ngh.

Về tài sản và công nợ: Chị Nguyễn Thị Ngh và anh Lương Văn Ch không yêu cầu giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngh tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0000409 ngày 19 tháng 8 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. Trả lại cho chị Nguyễn Thị Ngh số tiền 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng). Anh Lương Văn Ch phải chịu 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí đối với người có Ngh vụ cấp dưỡng định kỳ.

Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành (ngày 03/9/2025) và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ