vanban.org

Quyết định 57/2019/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa:

Anh Đặng Văn T, sinh năm 1993. Trú quán: Thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Chị Nguyễn Thị Tr, sinh năm 1995. HKTT: Thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Chỗ ở hiện nay: Ký túc xá 1 S, phường Đ, thị xã P, tỉnh Thái Nguyên. 2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Quyết định công nhận thuận tình ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa:
  • Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VIỆT YÊN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 57/2019/QĐST-HNGĐViệt Yên, ngày 16 tháng 4 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số 100/2019/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2019 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình, giữa: * Nguyên đơn: Anh Đặng Văn T, sinh năm 1993. Trú quán: Thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang. * Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Tr, sinh năm 1995. HKTT: Thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Chỗ ở hiện nay: Ký túc xá 1 S, phường Đ, thị xã P, tỉnh Thái Nguyên. Căn cứ vào các Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 55, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 05 tháng 4 năm 2019 về việc các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án dân sự thụ lý số: 100/2019/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2019.

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 05 tháng 4 năm 2019 là tự nguyện và không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Đã hết thời hạn bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa:

- Anh Đặng Văn T, sinh năm 1993. Trú quán: Thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

- Chị Nguyễn Thị Tr, sinh năm 1995. HKTT: Thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Chỗ ở hiện nay: Ký túc xá 1 S, phường Đ, thị xã P, tỉnh Thái Nguyên. 2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

- Về quan hệ vợ chồng: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Đặng Văn T và chị Nguyễn Thị Tr.

- Về con chung: Anh Đặng Văn T và chị Nguyễn Thị Tr đều xác định vợ chồng có một con chung là cháu Đặng Minh N – sinh ngày 14/9/2016. Nay vợ chồng ly hôn, anh T và chị Tr cùng thoả thuận giao chị Tr trực tiếp nuôi dưỡng con chung của vợ chồng, anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung với số tiền 2.000.000đồng / tháng, thời điểm cấp dưỡng tính từ tháng 5 năm 2019 đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh Đặng Văn T có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

- Về tài sản chung, ruộng canh tác chung, công nợ chung: Anh Đặng Văn T và chị Nguyễn Thị Tr cùng thỏa thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về án phí: Anh Đặng Văn T xin nhận nộp cả 150.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 150.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng tại Biên lai thu số AA/2012/05326 ngày 14/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Việt Yên. Xác nhận anh T đã nộp đủ án phí. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. 3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ