vanban.org

Quyết định 56/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên đối với:

Họ và tên : Trịnh Ngọc L, tên gọi khác: Không; sinh ngày 06/02/1965; ĐKHKTT: Tổ 08, phường QV, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 13 (Mười ba) tháng kể từ ngày bị tạm giữ để đưa vào Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Ngọc L"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên đối với:
  • Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…; Điều 106 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN,
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 56/QĐ-TAThái Nguyên, ngày 24 tháng 4 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Bà Nguyễn Thị Tứ Xuân

Thư ký phiên họp: Ông Lê Đức Chính – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên tiến hành mở phiên họp xem xét, Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cở sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 48/QĐ-TA ngày 17/4/2023 đối với:

Họ và tên : Trịnh Ngọc L, tên gọi khác: Không; sinh ngày 06/02/1965; ĐKHKTT: Tổ 08, phường QV, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/10; Con ông: Trịnh Xuân Hùng và con bà Trần Thị O; Vợ là Nguyễn Thị H, có 02 con; Tiền án: không; Tiền sự: 01.

(Có mặt tại phiên họp)

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Đồng Thị Hạnh, chức vụ:Phó trưởng phòng, Phòng Lao động thương binh và xã hội TP Thái Nguyên

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên: Bà Hoàng Thị Diệu Ngọc, Chức danh: Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY

Theo hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Ngọc L cho thấy: Trịnh Ngọc L là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2016 đến nay chưa cai bỏ được, loại ma túy sử dụng là heroine, hình thức sử dụng là hít.

Ngày 26/3/2023, tại gia đình riêng của L ở tổ 08, phường QV, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên, Công an phường Quang Vinh phát hiện đối tượng Trịnh Ngọc L có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đã tiến hành lập biên bản sự việc. Do L là đối tượng có nơi cư trú ổn định, Công an phường Quang Vinh đã lập hồ sơ đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy đối với L, đồng thời Chủ tịch UBND phường QV, thành phố TN đã có quyết định giao cho gia đình ông L quản lý trong thời gian xác định tình trạng nghiện và làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Ngày 31/3/2023, tại phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy đối với Trịnh Ngọc L của Trung tâm y tế thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xác định: Trịnh Ngọc L có nghiện ma túy nhóm MOP (heroine).

Sau khi có kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy, Công an Phường QV, thành phố TN đã thông báo, giải thích cho L về đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyên hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế theo quy định tại Điều 28 Nghị định 116/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ. Hết thời hạn đăng ký (5 ngày làm việc), ngày 07/4/2023, Công an Phường QV, thành phố TN đã lập Biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế đối với Trịnh Ngọc L.

Tại các bản tường trình Trịnh Ngọc L khai nhận: Bản thân L là người nghiện ma túy từ năm 2016 đến nay chưa bỏ được ma túy, loại ma túy L sử dụng là Heroine, hình thức sử dụng là hít, hai ngày sử dụng ma túy một lần, lần gần đây nhất là ngày 26/3/2023.

Tại phiên họp xét, Đại diện Phòng Lao động thương binh và xã hội thành phố Thái Nguyên có ý kiến: Đề nghị xem xét áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc, thời gian là 12 đến 15 tháng đối với Trịnh Ngọc L.

Người bị đề nghị là có ý kiến: Việc lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là hoàn toàn đúng, bản thân nghiện ma túy vẫn chưa cai được. Quá trình lập hồ sơ đã được biết và được đọc hồ sơ. Ông L nhất trí chấp hành Quyết định áp dụng biện háp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đề nghị hội đồng xem xét áp dụng thời gian cai nghiện phù hợp nhất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên có ý kiến: Quá trình giải quyết Tòa án đã tuân thủ theo đúng các quy định của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Đề nghị Tòa án áp dụng Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 105, Điều 106 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 32 Luật phòng chống ma túy; Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy, giải quyết theo hướng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Ngọc L thời hạn từ 12 đến 18 tháng tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên.

XÉT THẤY

Về thẩm quyền: Căn cứ khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 được sửa đổi bổ sung năm 2020; Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, Điều 9 của Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì việc đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Ngọc L thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Về thời hiệu và trình tự thủ tục: Đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Phòng Lao động thương binh xã hội thành phố Thái Nguyên đối với Trịnh Ngọc L được lập trong thời hiệu quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính; Các Điều 40, 41, 42, 43 của Nghị định số 116/NĐ-CP ngày 21/12/2021 quy định chi tiết 1 số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Điều 32 Luật phòng chống ma túy.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và trình bày của cơ quan đề nghị, người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thấy: Trịnh Ngọc L là người nghiện ma túy, tên loại ma túy sử dụng là Heroine, lần sử dụng ma túy gần đây nhất là ngày 26/3/2023. Tại phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy đối với Trịnh Ngọc L của Trung tâm y tế thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xác định Trịnh Ngọc L có nghiện ma túy loại heroine.

Sau khi có kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy, Trịnh Ngọc L đã được giải thích về quyền đăng ký cai nghiện tự nguyện, L không đăng ký cai nghiện tự nguyện.

Như vậy đối chiếu với quy định tại khoản 1 Điều 32 của Luật phòng chống ma túy thấy rằng: Trịnh Ngọc L là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên không đăng ký cai nghiện tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế, do vậy là đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và Luật phòng chống ma túy. Phòng Lao động, thương binh và xã hội thành phố Thái Nguyên đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Ngọc L là có căn cứ.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, mức độ nhận thức của người bị đề nghị áp dụng: Trịnh Ngọc L được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính là tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi về hành vi vi phạm của mình với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Theo lý lịch tóm tắt của Trịnh Ngọc L thể hiện L không có tiền án nhưng có 01 tiền sự, do đó không phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Sau khi xem xét đánh giá tính chất mức độ vi phạm của hành vi hành chính, nhân thân, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ thấy rằng mức thời gian Phòng Lao động thương binh xã hội thành phố Thái Nguyên đề nghị áp dụng đối với Trịnh Ngọc L là có căn cứ và phù hợp nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 95, 96, 105, 106 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2013 được sửa đổi bổ sung năm 2020; khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy; Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên đối với:

Họ và tên : Trịnh Ngọc L, tên gọi khác: Không; sinh ngày 06/02/1965; ĐKHKTT: Tổ 08, phường QV, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 13 (Mười ba) tháng kể từ ngày bị tạm giữ để đưa vào Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên.

3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị đối với Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

Thủ tục khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định được thực hiện theo quy định tại Điều 33 của Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thành phố Thái Nguyên chủ trì, phối hợp với Phòng Lao động thương binh và xã hội thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đưa người đi thi hành Quyết định; Cơ sở cai nghiện Đa chức năng tỉnh Thái Nguyên tiếp nhận người bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ